Posted by: minhanhtran80 | 2009/10/14

TỔNG HỢP VỀ CA DAO

CA DAO NÓI VÈ CÁCH LÀM CON

– Chiều chiều xách giỏ hái rau,
Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần

– Lấy chi trả thảo cho cha.
Trả ơn cho mẹ, con ra lấy chồng.

– Chiều chiều ra đứng ngõ sau.
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

– Quả cau nho nhỏ
cái vỏ vân vân
nay anh học gần
mai anh học xa
tiền gạo thì của mẹ cha
cái nghiên cái bút thiệt là của em.

– Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

Đói lòng ăn bát cháo môn
Để cơm nuôi mẹ cho tròn hiếu trung.

– Em thì đi cấy lấy công,
Để anh nhổ mạ tiền chung một lời.
Đem về cho bác mẹ xơi,
Làm con phải thế em ơi !

– Em thì đi cấy ruộng bông.
Anh đi cắt lúa để chung một nhà.
Đem về phụng dưỡng mẹ cha
Muôn đời tiếng hiếu, người ta còn truyền.

– Công cha, nghĩa mẹ nặng triều,
Ra công báo đáp ít nhiều phận con.

– Ở nuôi cha mẹ trọn niềm,
Bao giờ trăng khuyết lưỡi liềm hẵng hay

– Cau non khéo bổ cũng dầy,
Trầu têm cánh phượng để thầy ăn đêm.

– Ví dầu con phụng bay qua,
Mẹ nói con gà, cũng phải nghe theo.

– Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

– Nuôi con cho được vuông tròn
Mẹ thầy dầu dãi, xương mòn gối long
Con ơi, cho trọn hiếu trung
Thảo ngay một dạ, kẻo luống công mẹ thậy

– Cá không ăn muối cá ươn.
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

– Dạy con con chẳng nghe lời
Con nghe ông kễnh, đi đời nhà con

– Thờ cha, thờ mẹ hết lòng,
Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

– lam con phai tron phan con
mai sau phai biet lo tron me cha
lo mai cha yeu me gia
phan con con phai do dan me cha

CA DAO TỔNG HỢP

Duyên Anh

Nói về ca dao là nói về thơ lục bát. 95 phần trăm ca dao đều làm bằng thơ lục bát. Nếu ca dao là thân hình thì lục bát là dôi tay ôm chặt lấy. Gắn bó. Thơ lục bát rất dễ và rất khó làm. Người làm thơ lục bát hay thì đó là thơ lục bát. Người làm thơ lục bát dở thì đó là vè. Lục bát dễ biến thành vè lắm. Tôi đã nói Nguyễn Du đẩy thơ lục bát đến chỗ cao sang. Tôi nói thêm, Huy Cận đã đưa thơ lục bát vào cổ kính. Hai người làm thơ lục bát hay nhất. Sau hai người tài tử, chưa một thi sĩ nào làm thơ lục bát khiến ta khâm phục. Chúng ta đem Truyện Kiều ra so sánh với Lục Vân Tiên. Thấy ngay cái cao sang của Nguyễn Du và chất vè của Nguyễn đình Chiểu. Ca dao khác hẳn, chỉ là lục bát, không bao giờ là vè cả. Vì ca dao ngắn, 2 câu đến 10 câu là dài.

Qua đình ngả nón trông đình
Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
(Hai câu)
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Ðể anh trấn thủ nước non Cao Bằng
(Bốn câu)
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Cô về, sư ốm tuơng tư
Ốm lăn ốm lóc để sư trọc đầu
Muốn ăn đậu phụ tương dầu
Mài dao đánh kéo gọt đầu đi tu
(Sáu câu)
Văn chương phú lục chẳng hay
Trrở về làng cũ học cầy cho xong
Sáng ngày vác cuốc chăm đồng
Hết nước thì lấy gầu sồng tát lên
Hết mạ ta lại quẩy thêm
Hết thóc ta lại mang tiền đi đong
Nữa mai luá tốt đầy đồng
Gặt về đập xẩy bõ công cấy cầy.
(Tám câu)
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc tháng ba hôị hè
Tháng tư đong đậu nấu chè
Ăn Tết Ðoan Ngọ trở về tháng năm
Tháng sáu buôn nhãn bán trăm
Tháng bẩy ngày rằm xá tội vong nhân
Tháng tám chơi đèn kéo quân
Bước sang tháng chín chung chân buôn hồng
Tháng mười buôn bấc bán bông
Tháng một tháng chạp nên công hoàn toàn
(Mười câu)

Ca dao nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tự của nó ôm gọn dân tộc trong lòng. Từ tình yêu, nỗi khổ cực, niềm lo lắng đến giáo dục về sự thật thà, chế nhạo tật xấu, bài xích nhẹ nhàng kẻ ác, khôi hài thống trị…, đều có trong ca dao. Nó là Việt Nam đôn hậu, chất phác. Ngày xưa, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng hơi thở của ca dao, chúng ta yêu nước chúng ta lắm. Ðiệu ru nào đã ru ta ngủ, vẫn không ngoài ca dao.

Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về

Ngày nay, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng thứ khác. Không phải ca dao. Chúng ta bỏ quê hương – quê hương nông nghiệp – tìm chỗ thị thành mà ở, sống theo đuổi văn minh, vật chất tây phương. Chúng ta quên dần, quên hết ca dao. Một ngày nào đó, ca dao sẽ là cái gì kỳ cục mà chúng ta không thèm biết đến. Nếu chúng ta là nhà văn, nhà thi sĩ thì ca dao sẽ thành lạc hậu. cài trữ tình hôm qua đâu bằng cái trữ tình hôm nay. Chúng ta đọc tiểu thuyết Anh Mỹ, tiểu thuyết Pháp và, nếu cần, ta mượn cốt truyện của ngoại quốc làm cốt truyện của mình, có phải ta nghìn lần lãng mạn hơn ca dao vớ vẩn. Bây giờ, chúng ta mới, mới, mới và mới; chúng ta dứt khoát với quá khứ nó ràng buộc ta với quê hương ta. Tình tự dân tộc nó nhỏ bé quá, chúng ta tiến lên hàng vĩ đại tình tự với con người. Chúng ta định tình tự với thế giới, với con người bằng cái gì? Ở những cuốn tiểu thuyết gầy ốm, cóp nhặt tư tưởng của thiên hạ bừa bãi à? Cũng đuợc, loài người khó tính lắm, muốn đọc sách của chúng ta dịch sang tiếng nưóc ngoài thì họ mới hiểu chúng ta tình tự với họ với con người. Không, chúng ta không dại thế. Chúng ta chỉ thích mới, mới, mới và mới thôi. Chúng ta ra khỏi hàng ngũ những người lạc hậu và tình tự dân tộc. Mới mà không biết mới về đâu, đó là cuộc phiêu lưu không tưởng. Chúng ta chẳng hiểu đi tới bờ bến mới nào, có điều đường về quê hương đã bít lối.
Tôi không dám nhập vào cái chúng-ta-to-lớn quá. Vậy xin nhận cái tôi nhỏ bé, lạc hậu. Cái tôi nhỏ bé thách cái chúng-ta-to-lớn biểu diễn sáu câu ca dao “tán gái” sau đây:

Hôm qua tát nước dầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được cho chúng anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh không có mẹ già chưa khâu.

và bốn câu ca dao lãng mạn:

Lạy trời mưa nắng phải thì
Nơi thì cày rộng nơi thì bừa sâu
Công lao chảng quản lâu đâu
Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng

Người nông dân lạy trời nắng mưa hòa thuận để cầy bừa cho dễ dàng. Công lao không lâu đâu. Cứ hy vọng “ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng.” Thi sĩ ca dao mới lãng mạn biết chừng nào: Nước bạc ngày nay, cơm vàng ngày sau. Tuyệt vời cách ví von như thế. Tôi nghĩ rằng thi sĩ bác học có nghĩ cả đời cũng không làm nổi câu thơ thứ tư của thi sĩ ca dao.

Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trròi yên biển lặng mới yên tấm lòng.

Nỗi đau khổ của nông dân kể lể đau lòng quá. Từ trong nỗi khổ vẫn bùng lên cơn mơ mộng “Trông cho chân cứng đá mềm” tôi dám cam đoan rằng, trên thế giới, không có đại thi hào nào mơ mộng như người nông dân Việt Nam. “Trông cho chân cứng đá mềm” là giòng suối mơ mộng của thi sĩ ca dao. Giòng suối róc rách chảy đến vô tận. Chúng-ta-to-lớn thường mô tả cảnh bắt quân dịch và đầy ra mãi vùng I chiến thuật phục vụ. Những cảnh ấy, chúng-ta-to-lớn phải viết nhiều trang. ca dao có bốn câu, thưà xúc động.

Một tay thì cắp hoả mai
Một tay xách giáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Người quân dịch trấn thủ phương xa. Chúng-ta-to lớn sẽ nằm một chỗ, tuởng tượng sự cô đơn và nỗi thống khổ của người lính quân dịch hết một cuốn. Ca dao có bảy câu, bát ngát cô đơn.

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẳn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Nhũng giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nuớc giếng trong con cá nó vẫy vùng

Những đại văn hào, đại thi hào không thèm nghe ca dao nữa. Tôi xin lỗi các vị, nói chuyện ca dao với người khác. Trong cuốn Anthologie de la littérature populaire du Viet Nam, tác giả đã dịch một số ca dao. Thử mời các bạn thưởng ngoạn ca dao… Pháp văn:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vồn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây luá còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Ô mon buffle! Viens dans la rivière et labourons
Labourons et repiquons
Comme nos ancêtres paysans
Ni toi, ni moi
N’épargnons notre peine
Tant que les pallntes ne portent les épis
Il y aura toujours
Quelques brins d’herbe dans le champ
Pour que tu les manges, ô mon buffles!

Lỗ muĩ em những tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Ðêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Ði chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo ăn quà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu

Dis huit poils rugueux
Lui sortent des narines
Le mari l’aime
Il dit:
-“C’est un présent du Ciel:
La barbe du dragon”!
Un ronflement, la nuit,
Morte avec son sommeil
Le mari l’aime
Il dit” Pourquoi s’en plaindre”?
S’en va-t-elle au marché
Elled grignote sans arrêt
Le mari l’aime
Il dit:
-“Qu’importe! A la maison
Elle mangera moins de riz”.
Ses cheveus ne sont plus
Sue paille desséchée
Le mari l’aime
Il dit:
-“Sa tête est couronnée De fleurs au doux parfum!”

Tôi trích hai bài thôi và ở trong sách Anthologie de la littérature du Viet Nam không có bài ca dao tiếng Việt in kèm với bản dịch Pháp ngữ. Thành ra, người Việt Nam không hề biết ca dao mà đọc ca dao dịch sẽ chẳng thấy một hình ảnh nào lạ trong ca dao. Họ sẽ thất vọng ngay. Ngưòi ngoại quốc cũng thế. Nước ta ở một tình trạng nan giải. Quê hương nghèo nàn, nô lệ nhiều năm, nước nhỏ bé, ngôn ngữ ngoài phạm vi nước mình thì chả ai thèm biết tới, cho nên, những caí hay đẹp của ta như ca dao, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du … , dịch sang ngoại ngữ găp nghiều trở ngại. Mà chính ra ca dao không thể dịch, không nên dịch. Chắc rằng, cũng biết gặp khó khăn nên ông Hữu Ngọc cứ dịch, vì lòng yêu nước của ông thúc dục ông.
Tôi xin thành thực hoan nghênh ông, nhưng cũng thành thực phản đối khi ông nhắm ca dao vào mục đích tuyên truyền. 17 bài ca dao ông dịch giới thiệu “Ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến”. Ca dao là nghệ thuật. Nghệ thuật khác với kỹ thuật. Cách mạng tạo ra kỹ thuật cho con người, nhưng không thể, không bao giờ thể, tạo ra nghệ thuật cho con người. Trời cho con người nghệ thuật. Mọi sự rung động từ trái tim con người thoát ra. Cách mạng có làm cho con người rung động hay không, chứ không bắt con người phải rung động. Thi sĩ ca dao là nghệ sĩ đích thực. Nói thật đúng, thi sĩ ca dao của nguời là chính ca dao. Tôi sợ rằng ca dao “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến” là ngụy ca dao.
Ca dao đã mất hút từ hơn 100 năm nay. Không phải các thi sĩ giết chết ca dao bằng những tập thơ ấn loát đẹp và phổ biến về tận làng mạc xa xôi. Chẳng ai giết nổi ca dao khi nó còn sống và cần sống. Chẳng ai cứu nổi ca dao khi nó muốn chết và cần chết. Ði một chu kỳ ngót bốn ngàn năm, ca dao đã sáng tác thừa thãi cho dân tộc sử dụng. Ðã đến lúc ca dao chất dứt bổn phận của nó. Văn học dân gian cũng thế. Cái tối cần thiết hôm nay là tìm tòi ca dao còn ẩn mặt tại nông thôn. Tôi chưa biết ca dao miền Trung. Tôi chưa biết ca dao miền Nam. Tôi chỉ biết rất ít ca dao miền Bắc. Bây giờ, nếu bỏ ra 5 năm, tung những người yêu ca dao đi khắp ba miền đất nước tìm kiếm ca dao, tôi tin rằng mỗi miền sẽ đóng góp cho đất nước hàng chục pho sách. Bấy giờ, chúng ta giàu có ca dao. Bấy giờ, không cần ai làm ca dao nữa. Tất cả đều có trong ca dao. Nói thêm nữa bằng thừa. Ca dao tự nó biến thành nền móng và khi nó cảm thấy nền móng vững chắc rồi, ta cứ việc xây văn chương bác học. Và tiểu thuyết, thi ca cứ vất lên cái nền móng đó. Hay thì ở lại. Dở thì ném đi. Ca dao đã biết trước chúng ta, đã ly biệt hơn 100 năm nay. Thế mà ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze cải táng ca dao, lôi xác chết bảo rằng “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến”. Hai cuộc kháng chiến là chống Pháp giữ nước và chống Mỹ cứu nước.
Cứ dở hết ca dao ra mà coi, 1000 năm nô lệ giặc Tàu, có câu nào nói về Tàu, nói về quân xâm lăng tàn ác nhất loài người không? Bảo là 1000 năm ấy không có kháng chiến ư? Hai bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Ðế, Bố Cái Ðại vương … đã khởi nghĩa đánh nòi Hán đấy. Sử gia Lê văn Hưu viết: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho dến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng”! Ðến 100 năm nô lệ Tây, ca dao cũng chẳng viết câu nào về quân xâm lược dã man. Bảo là 100 năm ấy không có kháng chiến ư? Chuyện 100 Tây đô hộ, ai cũng biét có kháng chiến hay không kháng chiến.
Cách mạng tháng 8-1945, tôi được đọc bài ngụy ca dao như thế này:

Ðeo hoa chỉ tổ nặng tai
Ðeo kiềng nặng cổ hỡi ai có vàng
Làm thân một nước vẻ vang
Ðem vàng giúp nước giàu sang nào tầy
Ðổi vàng lấy súng cối say
Bắn tan giặc Pháp dựng ngày vinh quang

Ông thi sĩ thượng thặng nào đã đẻ ra bài ngụy ca dao quyên vàng của dân chúng cả nước để mua súng cối say bắn tan giặc Pháp, nhưng không mua, mà đem cống Tiêu Văn để nó mang quân Tàu phù về Trung Hoa? Cách mạng tháng 8 biết ông thi sĩ ấy. Hồi kháng chiến chống Pháp, ở hậu phương, tôi đã thuộc những câu ngụy ca dao dưới đây:

Thực dân hỡi thỡi thực dân
Ðàng nào thì cũng một lần về thôi
Việt Nam của Việt Nam rồi
Cướp làm sao nổi đất người Việt Nam

Diễn tả cảnh dã man của Pháp, hai câu ngụy ca dao lên tiếng:

Trẻ thơ đã tội tình gì
Bị quăng vào lửa chỉ vì thực dân

Một bài nữa tả anh chồng trách vợ:

Ðêm nay anh đi đánh Tây
Cửa nhà cậy có bu mày trông coi
Làm sao khóc lóc lôi thôi
Có vợ ai tồi như thế hay không

Tôi nói ca dao đã biệt ly hơn 100 năm, kể tư khi thời đại đánh mốc bằng hai câu chua xót:

Ngày xưa ta cũng có vua
Bây giờ mất nước, bonjour Toàn Quyền

Nhưng không có gì tuyệt đối cả, cũng còn vài người tương tư ca dao, thỉnh thoảng thốt lên lời cay đắng. Câu ca dao cay đắng dưới đây làm trong cách mạng tháng 8 đã 15 tuổi:

Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương

Cách mạng dùng chế độ gạo cai trị dân còn hơn thực dân dùng roi điện tra tấn con người. Tôi rất thích bốn câu ca dao làm trong cách mạng tháng 9, đuợc 3 tuổi.

Việt Nam dân chủ cộng hòa
Con tôm con tép bò ra biểu tình
Con cá đi lính Việt Minh
Con cua cũng lại ra đình hoan hô

Chỉ có hai câu ca dao là chính ca dao rơi rớt lại. Còn thì rặt ngụy ca dao. Ca dao bay bổng, bay cao, bay xa trên vùng trời Việt Nam. Ca dao nói về tình ái, nói về hạnh phúc, nói về đau khổ, nói về thương yêu, nói về cười cợt, nói về nhân nghĩa… Ca dao không nói về thù hận. Những kẻ cướp nước ta đã có người đuổi chúng và diệt chúng. Ca dao không để ý việc này. Ca dao sống tự nhiên với hạnh phúc và đau khổ. Ca dao cao thượng vô cùng, không oán ghét cả kẻ thù của mình. Ca dao không khen ngợi ai. Không ai có quyền hành bắt ca dao khen mình, Thỉnh thoảng, ca dao mới lên tiếng về thống trị đi quá đà.

Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Ði thì ăn cướp quần chồng sao đang

Dân miền Bắc vốn không ưa gì Tự đức, cảm tình đã trao tặng Quang Trung rồi. Nghĩ đến chuyện đào mả Quang Trung, lấy đầu lâu đái vào, dân đã khinh bỉ Gia Long. Mà việc Tự Ðức cấm đàn bà mặc váy, ca dao chỉ nói nhẹ nhàng. Ca dao không tàn tệ với ai cả. “Ca dao mới” đem tên các lãnh tụ cộng sản ra chửi bới thậm tệ là ngụy ca dao. Ca dao không nịnh bợ người nào. Hai câu dưới đây thổi phồng ông Hồ Chí Minh:

Tháp Mưòi đep nhất bông sen
Nước Nam đẹp nhất có tên bác Hồ

cũng là ngụy ca dao. Vậy thì ca dao “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến” là ngụy ca dao, phải chăng, thưa ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze!

Tôi viết hơi dài rồi. Phải tìm mấy điệu ca dao làm kết luận bài này mới đuợc. À tốt lắm, tôi lôi con gà, con lợn, con chó, con mèo, con ngựa, con kiến, con tôm, con cua, con cá ra quần chúng nó một phen.
– Kiến tại sao mày kiện củ khoai?
– Vì nó còn sống, lại kềnh càng, cháu ăn không nổi tha về tổ không xong. Cháu tức quá đi kiện nó chơi.
– Củ khoai có nói gì không?
– Nó cứ ì ra. Cháu kiện hoài hủy.
– Mày đem việc không dáng gì đi kiện tụng. Mày ăn nó, nhưng không ăn nổi, lại bày trò kiện nó. Ðáng lẽ, nó phải kiện mày.

Con kiến mà kiện củ khoai
Kiện di kiện lại đã hai năm tròn
Bây giờ kiến đã có con
Củ khoai mọc mậm vẫn còn kiện nhau

– Ngựa, sao mày chăm làm vậy?
– Trời sinh cháu ra, bắt cháu làm việc, bác ạ.
– Mèo, sao mày lười thế?
– Trời sinh cháu ra, muốn cháu làm biếng đấy mà, bác ơi!

Con ngựa đi Bắc về Nam
Hay ăn hay ngủ hay làm hay lo
Con mèo nằm bếp co ro
Biếng ăn, biếng ngủ, biếng lo biếng làm

– Mèo kia, mày muốn dò xét chuột, chứ mày đâu tử tế gì mà hỏi thăm nó có nhà hay không?
– Bác đi guốc trong bụng cháu.
– Rồi sao?
– Nó giả vờ giọng ai rồi xỏ xiên bảo đi mua mắm, mua muối về giỗ cha cháu.

Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi dâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo

– Bống này, mày khỏi củ hành đuợc không?
– Ồ tôm có hành thì cháu cũng có hành nó mới dậy mùi.
– Còn cua thì sao?
– Nó phải giã bằng chày, bác ạ!

Cá bông đi chợ cầu Canh
Con tôm đi trước củ hành theo sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.

– Gà, sao mày khóai lá chanh thế?
– Người sắp giết cháu, bác à. Cháu yêu cầu luộc cháu và cắt lá lá chanh thật nhỏ rắc lên
– Lợn, mày đòi hành chi vậy?
– Kho cháu mà có thiếu hành thì có ra gì! Thịt không hành, canh không mắm mờ lỵ.
– Chó, mày dặn dò gì không?
– Riềng là căn bản đã, bác ạ! Rồi mắm tôm sẽ tính sau. Hu, hu, hu…

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đúng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng

Thưa bạn đọc, đủ rồi đấy, câu chuyện ca dao.

CA NGỢI LÒNG YÊU NƯỚC VÀ LÒNG KÍNH YÊU BÁC HỒ CỦA TOÀN DÂN

Vượt sông em chở anh sang
Bến trơn em rắc trấu vàng anh sang
Đêm nay đường trải trăng ngà
Hành quân vẫn nhớ bến phà quê em

Dấu chân trên cát quen quen
Thoạt nhìn đã biết chân em đi tuần
Xôn xao bãi cát trắng ngần
Đếm sao hết được mấy lần em qua
Mắt nhìn như ánh sao sa
Ngày đêm em giữ quê nhà yên bình
Đẹp thay! Bãi cát êm êm
In bàn chân nhỏ của em đi tuần

Đứng trên cầu Cấm em thề:
Chưa xong nhiệm vụ chưa về quê hương

Mù u ba thứ mù u
Lính ta thì tình nguyện chớ tình thù ta chẳng đi
Chị em đã quyết chẳng chùn
Hai vai áo ướt chân bùn đường trơn
Đường trơn thì mặt đường trơn
Em gánh thóc thuế chẳng sờn hai vai
Trời mưa cho ướt lá khoai
Thóc em không ướt vì ngoài lá che
Đường xa, chân bước, tai nghe
Tin vui chiến thắng đưa về khắp nơi

Ngọn núi Truồi vừa cao, vừa dựng
Lòng người Thừa Thiên vừa cứng, vừa dai
Dù cho nắng sớm mưa mai
Sóng đồn gió dập, vẫn tranh đấu cho Nam Bắc trong
ngoài gặp nhau
Bắc Nam là con một nhà.
Là gà một mẹ, là hoa một cành
Nguyện cùng biển thẳm non xanh
Thương nhau nuôi chí đấu tranh cho bền

Ăn trái khổ qua, ai nhả ra cho đặng
Dầu cay, dầu đắng cũng ráng nuốt trôi
Căm thù cay đắng mấy mươi
Ta phải ngậm suốt ba chục năm trời mới diệt hết xâm lăng

*TÌNH KHÚC CA DAO

* Người Việt Nam chúng ta ai cũng có niềm tự hào: dân tộc chúng ta có hơn bốn ngàn năm văn hiến. Văn chương Việt Nam thật là phong phú, thi văn được phát xuất và phổ biến trong mọi tầng lớp xã hội. Những thi sĩ, văn sĩ thì mô phỏng theo văn thơ chữ Hán, mà sáng tác ra một số thi ca bằng chữ nôm. Những người bình dân đã đem tư tưởng, tâm tình của mình ra mà diễn tả bằng những câu văn vần, rồi truyền miệng với nhau. Đó chính là hình thức đầu tiên của Tục ngữ và Ca dao.

Trải qua năm tháng, các câu đó được thêm bớt, sửa chữa, gọt dũa để rồi tới ngày nay, chúng ta đã có một kho tàng vô cùng quí giá trong nền văn học bình dân.

Ca dao tục ngữ diễn tả nhiều khiá cạnh khác nhau của xã hội, bao gồm các đề tài hài hước, châm biếm, gia đình và trữ tình. Nhưng nhất là về trữ tình, đã được các thanh niên nam nữ thời xưa, dùng để tỏ tình, thổ lộ tình yêu thầm kín của mình với người mình yêu.

Người viết bài này không dám có hoài bảo tham khảo về Ca dao Tục ngữ. Trong phạm vi hạn hẹp của bài báo, người viết chỉ muốn cống hiến bạn đọc, một câu truyện tình thật thơ mộng của một đôi trai gái thời xưa, vừa lãng mạn, vừa chân thành, vừa mơ mộng, vừa thực tế. Họ đã dùng ca dao, tục ngữ để đối thọai trong lúc tâm tình với nhau:

Vào một buổi đẹp trời kia, có một chàng trai từ thôn Đông xuống thôn Đoài chơi, tình cờ chàng thấy một bóng hồng thấp thoáng bên bờ ao. Người đâu mà xinh đẹp lạ thường, chàng vừa hồi hộp vừa vui mừng, bèn đến gần làm quen. Để ca tụng nhan sắc mặn mà của nàng, chàng mở lời thật khéo léo:

Trúc xinh, trúc mọc bờ ao,
Em xinh, em đứng chỗ nào cũng xinh.
Trúc xinh, trúc mọc đầu đình,
Em xinh, em đứng một mình cũng xinh.

Nàng nghe xong, trong lòng tuy cảm thấy vui mừng, nhưng giả đò quay đi làm ngơ như không hay biết gì. Chàng thong thả tiến đến gần và tiếp:

Nước trong ai chẳng muốn rửa chân,
Người xinh ai không muốn đến gần mà xem.

Nghe xong, nàng mỉm cười, mắt chớp nhẹ hỏi chàng:

Bắc thang lên hái hoa vàng
Vì sao thiếp đưọc găp chàng nơi đây!?

Qua cách nói chuyện khéo léo, duyên dáng của nàng, chàng bắt đầu cảm thấy, càng nói càng yêu, càng nhìn càng mến, nên chàng lại tiếp:

Hoa thơm trồng cạnh bờ rào,
Gió Nam, gió Bắc, gió nào cũng thơm.

Thấy chàng đẹp trai ăn nói lại hoạt bát, nên nàng cũng có cảm tình với chàng, nhưng muốn chàng phải chú ý đến mình nhiều hơn nàng thỏ thẻ nói:

Thân em như thể trái chanh,
Lắt léo trên cành, nhiều kẻ ước mơ.

Chàng nghe xong hốt hoảng, sợ đã có chàng trai nào lọt được vào mắt nhung của nàng nên vội hỏi:

Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có nơi nào hay chưa!?

Hỏi xong chàng lại lo sợ, lỡ nàng lại cho biết một sự thật phũ phàng như :

Hoa thơm thơm nức cả rừng,
Ong chưa dám lượn, bướm đừng xôn xao.

Hoặc nàng lại thích:

Một mình ấm lạnh cho xong,
Hai nơi thêm nực, hai lòng thêm lo..

Nhưng may mắn thay, nàng cười thật duyên, nhìn chàng đắm đuối và trả lời:

Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Được lời như cởi tấm lòng, tim chàng như muốn nhảy múa trong lồng ngực, chàng thầm nghĩ, thật là cơ hội ngàn vàng nên chàng không thể bỏ qua, chàng tiếp liền:

Bao giờ cho gạo bén sàng,
Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh!?

Thấy nàng im lặng chưa nói gì, nên chàng tấn công thêm:

Anh là trai út ở nhà,
Anh đang kén vợ đường xa quê người,
Thấy em đẹp nói đẹp cười,
Đẹp duyên đẹp nết lại tươi răng ngà

Lối tỏ tình của chàng vừa tế nhị, vừa kín đáo, nên nàng hết sức cảm động, muốn tỏ cho chàng biết nàng cũng đã có cảm tình với chàng, nàng khéo léo tiếp rằng:

Vì dây thiên lý ngang trời
Để cho tài tử gặp người giai nhân.

Nhưng rồi nàng lại lo sợ, biết đâu chàng đã có gia đình, hoặc tim chàng đã có người làm chủ, nên nàng vội hỏi chàng :

Anh đã có vợ con chưa!?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào!?

Để cho nàng được yên lòng rằng, tim chàng vẫn còn khỏang trống để đợi nàng, nên chàng nhìn nàng thật đắm đuối và nói với nàng rằng:

Mẹ em khéo đẻ em ra
Đẻ em mười bốn, đẻ ta hôm rằm.
Em ơi đừng sợ bị lầm,
Mười bốn hãy đợi trăng rằm tròn gương

Thế là đôi trai tài gái sắc, yêu nhau vì nết trong nhau vì tài, họ đã bắt đầu cảm thấy, gần thì yêu, xa thì nhớ, nên chàng mới cầm tay nàng nói rằng:

Mình về, mình nhớ ta chăng,
Ta về ta nhớ, hàm răng mình cười.
Nàng cũng âu yếm nhìn chàng mà nói rằng:
Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.

Và:

Uớc gì anh hóa ra hoa,
Để em nâng lấy rồi mà cài khăn.

Tình yêu càng ngày càng đậm đà, bệnh tương tư của chàng càng ngày càng nặng thêm, nên chàng đã tâm sự với nàng:

Lá này gọi lá soan đào,
Tương tư gọi nó thế nào hở em!?
Lá khoai anh ngỡ lá sen,
Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn anh khêu.

Và một khi đã quá yêu, chàng thường lo lắng vẩn vơ:

Xin đừng ra dạ Bắc Nam,
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.

Nàng thấy chàng lo lắng bèn trấn an:

Đôi ta như ruợu với men
Đang say ngây ngất ai gièm cho xa.

Tình yêu càng đậm đà, nỗi nhớ nhung càng chồng chất, nhiều lúc chàng nghĩ:

Dù ai cho bạc cho vàng
Chẳng bằng trông thấy mặt nàng hôm nay.

Và nàng thì cũng mơ ước:

Dù ai cho nhẫn đeo tay
Chẳng bằng trông thấy chàng ngay bây giờ.

Tình yêu đã đến lúc chín mùi, chàng cần phải cưới nàng, không thể kéo dài thêm được nữa, nên một hôm chàng dọ ý nàng:

Đôi ta như cúc với khuy,
Nhu kim với chỉ may đi cho rồi.

Nàng cũng muốn tỏ cho chàng biết là nàng cũng mong muốn như thế:

Đôi ta như vợ với chồng
Chỉ hiềm một nỗi tơ hồng chưa se.

Nói là nói vậy, nhưng nàng vẫn còn một chút lo ngại cho tương lai:

Nghe anh được lúc bây giờ
Mai sau trứng nước con thơ ai nhìn!?

Chàng muốn tỏ cho nàng biết, chàng là người chung thủy, nên chàng tiếp:

Yêu em tâm trí hao mòn
Yêu em đến thác vẫn còn yêu em.

Chàng cũng muốn nàng phải hứa với chàng những lời gắn bó, vì thế nàng đã thề với chàng rằng:

Phải chi miếu ở gần sông
Em thề một tiếng kẻo lòng anh nghi.
Trăm năm ghi tạc chữ đồng,
Dù ai thêu phựơng vẽ rồng mặc ai.

Hai người đã quá yêu nhau đã quá hiểu nhau, nhưng nàng lại lo sợ gia đình chàng không chấp thuận vì vấn đề giai cấp, môn đăng hộ đối, nên nàng mới nói với chàng:

Thiếu chi hoa lý hoa lài,
Mà anh lại chuộng hoa khoai trái mùa.

Chàng vội vàng ngắt lời:

Thương nhau bất luận giầu nghèo.
Dù cho lên ải xuống đèo cũng cam.

Và để nàng thêm an tâm chàng tiếp:

Tình thương quán cũng như nhà,
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói cao.

Nàng nghe chàng nói cũng tạm yên lòng, nên âu yếm nhìn chàng nói rằng:

Anh về thưa với mẹ thầy,
Có cho làm rể bên này hay không!?

Sau đó hai người về thưa với cha mẹ, hai bên đều được cha mẹ đồng ý, tác hợp nên họ sung sướng nói vói nhau:

Một thuyền một bến một giây,
Ngọt bùi ta hửơng đắng cay chịu cùng.

Và sau đó chẳng bao lâu thì hai người đã nên vợ nên chồng, họ sống thật hạnh phúc bên nhau. Tối tối người ta thấy chàng và nàng:

Sáng trăng trải chiếu đôi hàng,
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ./.

Ðặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao-Tục Ngữ

–Dải đất miền trung nhỏ hẹp chạy dài từ Thanh Hóa cho đến Bình Thuận. Mỗi địa phương đều có phong tục, tập quán, thổ sản khác nhau và miếng ngon vật lạ chẳng bao giờ thiếu vắng khách sành ăn lựa chọn phẩm bình.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc các loại đặc sản của miền trung đã được ông bà ta chọn lựa và truyền tụng qua nhiều thế hệ.

Nghệ An xưa nay nổi tiếng với cam Xã Ðoài, nhút Thanh Chương…

Ra đi anh nhớ Nghệ An
Nhớ Thanh Chương ngon nhút,
Nhớ Nam Ðàn thơm tương…

Vùng đầu nguồn Lam Giang còn có những đặc sản vùng cao như:

Tiếng đồn cá Mát sông Găng,
Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.

Vào đến Quảng Bình thì có các loại sơn hào hải vị, những món thượng thừa trong khoa ẩm thực:

Yến sử Vĩnh Sơn
Cửa Khổng Cửa Ròn
Nam sâm Bố Trạch
Cua gạch Quảng Khê
Sò nghêu Quán Hàu
Rượu dâu Thuận Lý…

Ðến Thừa Thiên – Huế bạn sẽ được thưởng thức các loại trái cây ngọt ngào, thơm ngon:

Quýt giấy Hương Cần
Cam đường Mỹ Lợi
Vải trắng Cung Diên
Nhãn lồng Phụng Tiên
Ðào tiên Thế Miếu
Thanh trà Nguyệt Biều
Dâu da làng Truồi
Hạt sen hồ Tịnh…

Vào xứ Quảng được thưởng thức tiếp các món:

Nem chả Hòa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam Kỳ…

Trái bòn bon hay còn gọi là trái Nam trân rất quý hiếm, ngày xưa thuộc loại tiến kinh, được nhắc nhở qua câu hò tâm tình ý nhị:

Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…

Ðất Quảng nổi tiếng với món don, ngon nhất là don Vạn Tường, bởi vậy mới có câu ca:

Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn Tường…

Xứ Quảng còn là đất mía đường:

Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại nghiền

Quảng Ngãi còn nhiều đặc sản nổi tiếng khác:

Mứt gừng Ðức Phổ
Bánh nổ Ðức Thành
Ðậu xanh Sơn Tịnh…

Hoặc:

Mạch nha Thi Phổ
Bánh nổ Thu Xà
Muốn ăn chà là
Lên núi Ðịnh Cương…

Rời Quảng Ngãi vào Bình Ðịnh quê hương của dừa:

Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

Hoặc:

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Ðịnh sợ dài đường đi…

Bình Ðịnh còn nổi tiếng một loại trái cây rừng, mà thuở xưa dùng để tiến kinh. Ðó là trái chà viên:

Quảng Nam nổi tiếng bòn bon
Chà viên Bình Ðịnh vừa ngon vừa lành
Chín mùi da vẫn còn xanh
Mùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn…

Từ Bình Ðịnh vượt đèo Cù Mông vào đất Phú Yên, nơi nổi tiếng có xoài ngon Ðá trắng:

Xoài đá trắng
Sắn phường lụa…

Phú Yên cũng là xứ đường mía, nhất là vùng La Hai, Ðồng Bò:

Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai
Ðất đỏ nhiều bắp La Hai nhiều đường

Nổi tiếng nhất phải nói đến sò huyết ở đầm Ô Loan, huyện Tuy An và cước cá ở thị xã Tuy Hòa đã được thi sĩ Tản Ðà ca tụng:

Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hàu.

Vượt đèo Cả vào đất Khánh Hòa cũng có lắm hải vị sơn hào như:

Yến xào Hòn Nội
Vịt lộn Ninh Hòa
Tôm hùm Ðình Ba
Nai khô Diên Khánh
Cá tràu Võ Cạnh
Sò huyết Thủy Triều…

Vào Phan Rí, Phan Thiết là quê hương của cá, mắm ngon được cả nước truyền tụng. Nhờ cá mắm nhiều mà có lắm cuộc tình duyên mặn mà dí dỏm:

Cô kia bớt tóc cánh tiên
Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi
Chẳng tin giở thử ra coi
Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

Ở miền trung đất đai khô cằn, đồng bằng nhỏ hẹp, biển cả mênh mông, núi rừng trùng điệp, có lắm của ngon vật lạ hấp dẫn đối với khách sành ăn. Ðây là một trong những tiềm năng của ngành Du lịch Việt Nam.

TÌNH ĐỜI,TÌNH NGƯỜI.

Làm người phải đắn phải đo
Phải cân nặng nhẹ,phải dò nông sâu

Ai ơi chớ vội cười nhau
Ngắm mình cho tỏ trước sau hẵng cười

Thổi sáo phải biết truyền hơi
Khuyên người phải biết lựa lời mà khuyên

Đấy vàng đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý,đây sen nhị hồ

Thương thay thân phận con rùa
Lên đình đội hạc,ra chùa đội bia

Người đời ai có dại chi
Khúc sông rộng hẹp phải tuỳ khúc sông

Thế gian chuộng của chuộng công
Nào ai có chuộng người không được gì

Rượu lạt uống riết cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm

Vất vả có lúc thanh nhàn
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho

Trời có khi nắng khi mưa
Người còn khi sớm khi trưa thất thường

Chì khoe chì nặng hơn đồng
Sao chì không đúc nên cồng nên chuông

Anh hùng như thể thân lươn
Khi cuộn thì ngắn,khi vươn thì dài

Khó thì hết thảo hết ngay
Công cha cũng bỏ,nghĩa thầy cũng quên

Cách sông nên phải lụy thuyền
Nhưng đi đường liền ai phải lụy ai

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

Vai mang túi bạc kè kè
Nói quấy nói quá người nghe rần rần

Lễ lộc mang đến cửa quan
Khác nào như thể mang than đốt lò

Yêu ai đừng nói quá ưa
Ghét ai đừng nói thiếu thừa như không
Khác nào quạ muợn lông công
Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa

Làm người suy nghĩ xét ra
Cho tường gốc ngọn cho ra vắn dài

Khi ăn chẳng nhớ đến tai
Đến khi bị phỏng lấy ai mà rờ

Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Trời nào có phụ ai đâu
Siêng năng thì giàu,có chí thì nên

Mạnh vì gạo,bạo vì tiền
Có tiền có gạo là tiên trên đời

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

Làm người ăn tối,lo mai
Việc mình chớ dễ nhờ ai lo dùm

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Trời nắng rồi trời lại mưa
Chứng nào tật nấy có chừa được đâu

Sông kia có lạ gì cầu
Lòng người nham hiểm biết đâu mà dò

Bởi anh tin bợm mất bò
Tin bạn mất vợ nằm co một mình

Khi nghèo thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

Lửa cháy còn chế thêm dầu
Người thì can gián,người chêm mãi vào

Có tiền chán vạn người hầu
Có bấc có dầu chán vạn người khêu

Đất xấu trồng cây khẳng khiu
Những người thô tục nói điều phàm phu

Càng thắm thì càng dễ phai
Thoang thoảng hoa nhài thì được thơm lâu

Đố ai lặn xuống vực sâu
Mà đo miệng cá uốn câu cho vừa

Sa chân bước xuống ruộng dưa
Dù ngay đến mấy cũng ngờ kẻ gian

Con sâu làm rầu nồi canh
Một người làm đĩ xấu danh đàn bà

Giàu sang lắm kẻ tới nhà
Khó khăn cha mẹ ruột rà cũng xa

Thương người người mới thương ta
Muối kia bỏ bể mặn đà có nơi

Thay quần thay áo thay hơi
Thay dáng thay dấp tính người không thay

Đời người có một gang tay
Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang

Vàng thì thử lửa thử than
Chuông kêu thử tiếng,người ngoan thử lời

Vàng tâm xuống nước vẫn tươi
Anh hùng lâm nạn vẫn cười,vẫn vui

Chuyện mình giấu đầu hở đuôi
Chuyện xấu cho người vạch lá tìm sâu

Đàn đâu mà khảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ.gươm đâu chém ruồi

Nói lời thì giữ lấy lời
Đừng như bươm bướm đậu rồi lại bay

Thức lâu mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết là người có nhân

Nói người phải nghĩ đến thân
Sờ tay lên trán thử gần hay xa

Năm canh thì ngủ lấy ba
Hai canh lo lắng việc nhà làm ăn

Bấy lâu sao chẳng nói năng
Bây giờ năng nói thì trăng xế tà

Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng

Mặc đời danh lợi bon chen
Thuyền trôi mặt nước,ngồi xem trăng ngà

Bánh bò gầy cái hôm qua
Hôm nay đem đổ lại ra bánh bèo

Thần tiên lúc túng cũng liều
Huống chi thân cú quản điều hôi tanh

Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông thanh khẽ đánh bên thành cũng kêu

Xưa kia ăn đâu ở đâu
Bây giờ có bí chê bầu rằng hôi

Tưởng rằng đá nát thì thôi
Nào ngờ đá nát nung vôi lại nồng

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Tối trời trăng sáng hơn sao
Dẫu rằng núi lở còn cao hơn đồi

Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ là người lo toan

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người

Còn tiền chán vạn người mời
Hết tiền anh đứng trông trời thở than

Rượu ngon chẳng nệ be sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

Từ rày buộc chỉ cổ tay
Chim đậu thì bắt,chim bay thì đừng

Hơi đâu mà giận người dưng
Bắt sao cho được chim rừng đang bay

Dù ai nói đông nói tây
Thì ta vẫn vững như cây giữa rừng

Canh cải mà nấu với gừng
Không ăn thì chớ xin đừng mỉa mai

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Bạn bè chuyện vãn vài phân
Chớ đem tấc dạ mười phần tuôn ra

Tằm vương tơ,nhện cũng vương tơ
Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm

Hoa sen mọc bãi cát lầm
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen

Muốn trong nước phải đánh phèn
Mua phèn phải tốn đồng tiền mới trong

Củi mục bà để trong nương
Hễ ai hỏi đến trầm hương của bà

Hoài lời nói kẻ vô tri
Một trăm gánh chì đúc chẳng được chuông

Chim khôn gìn giữ bộ lông
Người khôn khi nói cũng không dậm lời

Khó khăn đắp đổi lần hồi
Giàu sang chẳng lẽ chỉ ngồi ăn không

Thứ nhứt sợ kẻ anh hùng
Thứ nhì sợ kẻ bần cùng cố thây

Anh đây như thể lão chài
Vực sâu anh thả lưới,bãi chài anh buông câu

Có trầu mà chẳng có cau
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm

Chữ nhẫn là chữ tượng vàng
Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu

Ai ơi !Chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành

Cạn thì cuộn áo xăn quần
Sâu thì phải dấn cả thân ướt đầm

Xuống ghe lựa chỗ mà ngồi
Chèo nghiêng nước đổ bạn ngồi phía mô

Cá khôn chẳng núp bóng dừa
Gái khôn chẳng thể lê la nhà người

Người khôn nói ít làm nhiều
Còn như người dại lắm điều điếc tai

Chớ nên trông đợi rủi may
Cứ tin vào ở chân tay sức người

Đời người kể được bao lâu
Công danh bánh vẽ,sang giàu chiêm bao

Khi yêu quạt ấm cũng cho
Khi ghét thì cái quạt mo cũng đòi

Chăm chăm chỉ biết véo người
Ai mà véo lại rụng rời chân tay

Rế rách cũng đỡ phỏng tay
Lư đồng hết sáng cũng vương mùi trầm

Nước lên thì nước lại ròng
Dễ gì bắt được con còng trong hang

Bề trên mà biết bao dung
Thì trăm kẻ dưới hết lòng mến yêu

Tưởng rằng củi mục dễ đun
Ngờ đâu củi mục khói um cả nhà

Gẫm xem sự thế thăng trầm
Xưa ông mặt lớn,nay thằng tay trơn

Đã lâu mới gặp bạn quen
Cũng bằng nấu cháo đậu đen xanh lòng

Thử xem thế sự thăng trầm
Xưa ngơi gác tía,nay nằm chòi tranh.

Nước dưới sông hết trong thì đục
Vận người đời lúc nhục,lúc vinh.
(Ca dao-st)

Ca Dao và Hình Ảnh Quê Nhà

Cho em trở lại đường xưa
Để em tìm lại gốc dừa cạnh ao
Lời anh âu yếm chiều nào
Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm
Rượu Hồng Ðào chưa uống đã say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo”.

“Quê tôi có gió bốn mùa,
Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm.
Chuông hôm gió sớm trăng Rằm,
Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi.
Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng bỏ gió chao ôi bỏ chùa”.

Đố ai lượm đá quăng trời,
Đan gàu tát biển ghẹo người cung trăng.
Đừng thấy miếu rách mà khinh,
Miếu rách mặc miếu, thần linh hãy còn.
Được mùa chê gạo vô hơi,
Mất mùa ăm cám, trời ơi, hỡi trời.

Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ.
Ruộng ai thì nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy gặp đừng chờ uổng công.

Công anh chẻ nứa đan bồ
Con chị đi mất, anh vồ con em
Công anh rọc lá gói nem
Con chị đi mất, con em trốn chồng

Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

Cau già dao bén thì ngon
Người già trang điểm phấn son cũng già

Càng già càng dẻo càng dai
Càng gãy chân chõng, càng sai chân giường

Đi chùa lạy Phật cầu chồng
Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn
Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

Mưa xuân, lác đác vườn đào
Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa
Ai làm gió táp, mưa sa
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn.

Đàn bà nói có là không
Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

Đàn bà tốt tóc thì sang
Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

Cái cò là cái cò quằm,
Mày hay đánh vợ mày nằm với ai ?
Có đánh thì đánh sớm mai,
Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm.

Tốt duyên lấy được vợ già,
Vừa sạch cửa nhà, vừa rẻo cơm canh.
Hoài hơi mà lấy trẻ ranh,
Ăn vụng đầu bếp, ị quanh đầu nhà

Đàn ông kia hỡi đàn ông!
Nửa đêm trở dậy cắm chông đàn bà.
Đàn bà kia hỡi đàn bà!
Nửa đêm trở dậy rút ruột già đàn ông.

Vương, Phụ, Mẫu, Phu, Thê
Ngồi lại một thuyền,
Gặp trận giông chìm xuống.
Em hỏi thăm chàng sẽ vớt ai ?

Đứng giữa trời anh nói không sai.
Vương anh đội trên đầu,
Phụ mẫu anh gánh hai vai,
Còn Hiền Thê ơi, lại đây anh cõng.
Còn hai tay, anh vớt thuyền.

Còn trời còn nước còn non,
Còn cô bán rượu tôi còn say sưa

VẦN CA DAO BẤT HỦ

“Giá như ngày ấy…”

Đã là người dân nước Việt mến yêu mấy ai mà không biết đến bài ca dao sau:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biêt đâu mà gỡ
Chim vào lồng , biết thuở nào ra”.

Đoạn thơ trên tràn đầy sự tiếc nuối xót xa, thoảng trong đó vời vợi những lời oán trách nhẹ nhàng nhưng không kém phần day dứt. Những người đã từng trải thường bị một tâm lý gây xúc động khá mạnh, đó là sự nuối tiếc những sự việc đã qua. Thời gian không bao giờ quay trở lại. Chẳng có sức mạnh nào có thể tái tạo lại được những ngày xưa. Mà nếu có thể, thì việc đó đâu còn được gọi là thuở ban đầu? Nên cái nỗi buồn “giá như ngày ấy” luôn luôn tồn tại.

Một ngày nào đó người con gái đã ngậm ngùi thầm kể với người mình yêu:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”

Ngay mờ đầu tâm sự đã gợi lên một sự phi lý như chính cuộc đời lỡ dở của nàng. Nàng muốn hái hoa , nhưng sao chẳng dễ dàng! Nàng phải trèo lên để hái hoa mãi trên cây bưởi đầy gai góc, đến khi trở xuống vườn cà những tưởng hái bông cà màu tim tím nhưng hóa ra lại là hái nụ tầm xuân xanh biếc. Ôi nàng … sao thật trớ trêu!

Rồi sau đó nàng lặng lẽ ngắm nhìn nụ tầm xuân chớm nở đầy sự khêu gợi quyến rũ mà chợt nghĩ tới mình, khi buổi còn con gái hơ hớ chưa chồng và cả người bạn tình thắm thiết nồng nàn thuở ấy!

“Em có chồng anh tiếc lắm thay!”. Vâng, tiếc lắm chứ. Làm sao một người con trai đầy sức mạnh, đầy tham vọng lại không tiếc, lại không đau đớn điên người khi thấy người con gái mình hằng yêu thương lại ở trong vòng tay kẻ khác.

Để lột tả một cách mạnh mẽ tâm trạng, ở đây vần thơ đột ngột chuyển hướng từ thể lục bát về thể 7 chữ được gieo vần thanh trắc; giữa câu và ở cuối câu: “biếc” và “tiếc” tạo ra những âm thanh mạnh, gắt và cao trong cái giai điệu vốn bình bình trầm lặng của câu thơ lục bát (bài thơ này không hẳn là thể song thất lục bát bởi vì có những bốn câu lục bát tiếp theo).

Sao quá cay chua và thất vọng vậy? Chỉ vỏn vẹn có mỗi ba đồng thôi, số tiền này đâu có lớn, ấy thế mà nó đổi được cả cuộc đời, đổi cả được bầu trời hạnh phúc?

“Ba đồng một mớ trầu cay
sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?”

Vụng dại quá, tệ hại quá và đau đớn xé lòng biết bao. Có lúc chúng mình đã từng kề sát bên nhau tưởng có thể xiết được lấy tay nhau cùng sánh bước, ấy thế mà ai quá chậm chạp, ai quá do dự nên để rồi dưới gầm trời này, chúng mình mãi mãi xa nhau, không thể nào tìm được, không bao giờ chuộc được, định mệnh khắc nghiệt biết bao . Nỗi trường hận “giá như ngày ấy…” chính là ở chỗ này!

Anh xa rồi như một cái bóng thoảng qua, còn em chơi vơi ở lại, không gian, thời gian chẳng phải của mình, đời tối xẫm màu vô nghĩa, với phận “chim chậu cá lồng” để chờ đợi sự kết thúc một kiếp người… Vần thơ đột ngột quay trở về và cũng bỏ lửng vội vàng ngay tại đó với kiểu bảy chữ cùng sự gieo vần thanh trắc đầy hiểm hóc gay cấn là cách tối ưu để lột tả một định mệnh xót xa của một con người:

“Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra”.

Bài ca dao trên quả thật là bất hủ bởi tính nghệ thuật và sức đồng cảm mạnh mẽ, lay động biết bao tâm hồn cô quạnh ở trên cõi đời này. Bởi một lẽ, trong suốt cuộc đời dài dằng dặc,nỗi trắc ẩn tiếc nuối lớn hay nhỏ đâu phải của riêng ai? Bởi vì nhân quần này, đã mấy ai không nếm vào vị đắng của tình yêu! Bài ca dao sẽ sống mãi như một viên ngọc quý được giữ gìn bao bọc trong cõi thẳm sâu tâm hồn và những hoài ước của chúng ta.

THÁCH CƯỚI
cưới em chi cần dăm sợi bún với và hạt xôi.
cưới em còn nữa anh ơi.
có một đĩa đậu với hai môi rau cần.
có xa xịch lại cho gần.
nhà em thách cưới có ngần ấy thôi
nếu mà khó quá anh ơi
để em bớt lại một môi rau cần

Em đang dệt chiếu hồi văn
Nghe anh có vợ em quăng con chuồi
Em đang bắc nước chờ sôi
Nghe anh có vợ quăng nồi đá vung
Em đang vút nếp thổi xôi
Nghe anh có vợ thúng trôi nếp chìm….

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Một người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lòng
Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân
…..

Tối qua trăng sáng tờ mờ
Em đi gánh nước tình cờ gặp anh.
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu,
Trầu này têm những vôi tàu,
Ở giữa đệm quế, dưới đầu thơm cay.
Mời anh xơi miếng trầu này
Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên vợ nên chồng,
Thì anh cũng biết tấm lòng cho em.

Gặp nhau ăn một miếng trầu
Gọi là nghiã cũ về sau mà chào
Miếng trầu đã nặng là bao
Muốn cho đông liễu tây đào là hơn!
Miếng trầu kể hết nguồn cơn
Muốn cho đây đãy duyên nào hợp duyên

Trầu nầy trầu quế, trầu hầu
Trầu loan trầu phượng, trầu tôi lấy mình
Trầu nầy, trầu nghiã, trầu mình lấy nhau
Trầu nầy têm tối hôm qua
Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng
Trầu nầy không phải trầu hàng
Không bùa không thuốc sao chàng không ăn
Hay là chê khó chê khăn
Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.

Ví dặm Nghệ Tĩnh

Thương anh lắm anh ơi
Nhớ anh lắm anh ơi
Thương đáo để khúc nôi
Nhớ ngao ngán trần đời
Bưng cơm ăn nỏ được
Bưng nước uống không trôi
Cầm lấy đọi đọi rớt (đọi= bát)
Cầm lấy đụa đụa rơi (đụa= đũa)
Ra ngong đất ngó trời
Ra ngong ngược ngó xuôi
Cha mới hỏi:
“Mần răng rứa con ơi?”
Mẹ lại hỏi:
“Mần răng rứa con ơi?”
Tui mới lặng lặng trả lời:
“Vì thương anh vô kể
Mà thiếp nhớ chàng vô kể”

Yêu là thế, thế mà rồi cô gái lại dặn dò chàng trai thế này:

Thiếp thuơng chàng đừng cho ai biết
Chàng thuơng thiếp đừng để ai hay
Rồi ra miệng thế lắt lay
Cực chàng chín rưỡi, thiếp đây khổ mười”

Thế mới biết, lễ giáo khắt khe lắm, nhưng các đôi tình nhân vẫn yêu nhau tha thiết bạn ạ.

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ

– Người già trái chứng
– Người già đái tật
– Miếng ăn là miếng nhục
– Lạt mềm buộc chặt
– Quạ nào quạ chẳng đen đầu
– Quạ không bao giờ mổ mắt quạ
– Không ai nắm tay thâu ngày đến tối
– Không ai duỗi tay thâu ngày đến sáng
– Nhân vô thập toàn
– Ai uốn câu cho vừa miệng cá
– Gà mái không gáy
– Gió thổi là chổi trời

– Cọ già là bà lim

– Bàng già là bà lim

– Tre già là bà lim

– Thật thà là cha quỷ quái

– Cờ bạc là bác thằng bần

– Cơm tẻ là mẹ ruột

– Sạch sẽ là mẹ sức khỏe

– Thất bại là mẹ thành công

– Lúa ré là mẹ lúa chiêm

– Rau bợ là vợ canh cua

– Gió đông là chồng lúa chiêm

– Khách đến nhà không gà thì vịt

– Sói đến nhà không mất gà cũng mất vịt

– Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh

– Ruốc tháng hai, chẳng khai thì thối

– Họ nhà khoai, không ngứa cũng lăn tăn

– Mống đông vồng tây, không mưa dây cũng bão dật

– Chớp thừng, chớp chão, không bão thì mưa

– Không mưa thì gió, khi mặt trời đổ như son

– Nứa trôi sông chẳng dập thì gãy, gái chồng rẫy chẳng chứng nọ cũng tật kia

– Trống tháng bảy, không hội thì chay

– Tháng sáu heo may, chẳng mưa thì bão

– Thâm đông, hồng tây, dựng may, chẳng mưa dây cũng bão giật

– Cơm ăn vào bụng chẳng sớm thì trưa, nón đội trên đầu chẳng mưa thì nắng

– Đời ông cho chí đời cha, mây ráng Sơn Trà chẳng gió thì mưa

– Mấy đời chó sủa ngõ không, chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày

– Thủ thỉ nhăng quỷ ma
– Tẩm ngẩm mà đấm chết voi

– No bụng nhưng đói con mắt

– Cũ người, mới ta

– Làm thần đất ta, làm ma đất người

– Cơm treo mèo nhịn đói

– Của rẻ là của ôi, của đầy nồi là của không ngon

– Hiền trước mặt, làm giặc sau lưng

– Khôn nhà, dại chợ

– Già đời còn mang tơi chữa cháy

– Được tiếng lại được miếng

– Khôn với vợ, dại với người dưng

– Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi

– Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng

– Có tiếng mà chẳng có miếng

– Có bột chẳng gột nên hồ

– Có vỏ mà nỏ có ruột

– Hữu danh vô thực

– Dao sắc không chặt được chuôi

– Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con

– Người lười nhưng đất không lười

– Không có tay mà hay nói

– Không có tinh lại có tướng

– Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời

– Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời

– Ai giàu ba họ, ai khó ba đời

– Không ai khen đám cưới, không ai cười đám ma

– Không ai nuôi chó một nhà, nuôi gà một sân

– Ở hiền gặp lành

– Môi hở răng lạnh

– Tay nhọ mặt cũng nhọ

– Leo cao ngã đau

– Trâu ác trâu dạc sừng

– Trâu chậm uống nước đục

– Đi đêm có ngày gặp ma

– Đất lành chim đậu

– Kính lão đắc thọ

– Đi một ngày đàng học một sàng khôn

– Xấu thiếp hổ chàng

– Năng nhặt chặt bị

– Quan to vạ cả

– Quan cả vạ đau

– Đục nước béo cò

– Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ

– Có công mài sắt, có ngày nên kim

– Miệng ăn núi lở

– Tham thì thâm

– Túng thì tính

– Bút sa gà chết

– Được đằng chân lân đằng đầu

– Được voi đòi tiên

– Hết xôi rồi việc

– Đắt chỗ buôn, buồn chỗ bán

– Được lòng ta, xót xa lòng người

– Có mới nới cũ

– Cả cây nậy buồng

– Cả vốn lớn lãi

– Ăn lắm trả nhiều

– Ăn mặn khát nước

– Tửu nhập ngôn xuất

– Tức nước vỡ bờ

– Tre già măng mọc

– Vợ là ông thì chồng là tớ

– Thẳng da bụng chùng da mặt

– Tốt vay dày nợ

– Bé trộm gà, cả trộm trâu

– Đứa dại cởi truồng, thằng khôn xấu mặt

– To đầu khó chui

– Muốn ăn cá phải thả câu

– Giỏ nhà ai quai nhà nấy

– Cha nào con nấy

– Đâm lao phải theo lao

– Trâu buộc ghét trâu ăn

– Có nước có cá

– Sinh sự, sự sinh

– Ngoài đồng vàng mơ trong nhà mờ mắt

– Lúa bóng vang, vàng con mắt

– Một người làm quan thì sang cả họ

– Một người làm quan cả họ được nhờ

– Không ưa đổ thừa cho thối

– Không ưa thì dưa có dòi

– Không ưa dổ thừa cho xấu

– Không lấy thì quấy cho hôi

– Không đau làm giàu mấy nỗi

– Không đắp bờ thì trơ chân lúa

– Không con héo hon một đời

– Không được ăn thì đạp đổ

– Chẳng lo trước ắt lụy sau

– Không trâu bắt chó đi cày

– Không trâu bắt dê đi dầm

– Không chó bắt nèo ăn cứt

– Không voi lấy bò làm lớn

– Không có cá lấy rau má làm trọng

– Có sừng thì đừng hàm trên

– Có sừng thì đừng có nanh

– Đất xấu vắt chẳng nên nồi

– Của ngon, không đến mẹ con mày

– Cây ngay không sợ chết đứng

– Phụ vợ không gặp vợ

– Không đẻ không đau

– Không làm không tiếc

– Không có lửa sao có khói

– Không có bột sao gột nên hồ

– Không có mây sao có mưa

– Không làm thì hàm không động

– Không bóp cổ thì chẳng lè lưỡi

– Không đồng chẳng mong được kiện

– Không mà cả trả không hết

– Không thẳng tay gàu, nước đâu đến ruộng

– Không vào hang hổ sao bắt được hổ

– Không thầy đố mày làm nên

– Không có cha mẹ ai ở lỗ nẻ mà lên

– Vô tửu bất thành lễ

– Vô vọng bất thành quan

– Vô tiểu nhân bất thành quân tử

– Bất học vô thuật

– Được ăn, được nói, được gói mang về

– Cơm ăn, tiền lấy, giấy trả quan

– Ráng mỡ gà, có nhà thì chống

– Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa

– Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa

– Xấu như ma, vinh hoa cũng đẹp

– Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên

– Bao giờ đom đóm bay ra, hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng

– Bé con nhà bác, lớn xác con nhà chú

– To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn

– Mùa bớt ra, chiêm tra vào

– Mèo già hóa cáo, chuột lão hoa dơi

– Đói ăn rau, đau uống thuốc

– Khôn quảng đại, dại tham lam

– Đói ăn vụng, túng làm liều

– Để một thì giàu, chia nhau thì khó

– Đểu thì mới có, phũ* như chó mới giàu (* độc ác, tàn nhẫn)

– Ở chọn nơi, chơi chọn bạn

– Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon

– Ở bầu thì trong, ở ống thì dài

– Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

– Trẻ cậy cha, già cậy con

– Già dọc thì sang, già ngang đổ vào

– Khôn nhờ, dại chịu

– Khôn ra miệng, dại ra tay

– Chết trước được mồ mả, chết sau nằm ngả nằm nghiêng

– Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào

– Chó treo, mèo đậy

– Mềm nắn, rắn buông

– Kiện gian, bàn ngay

– Ăn vóc, học hay

– Được mùa cau thì đau mùa lúa, được mùa lúa thì úa mùa cau

– Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo

– Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong

– Đẹp như tiên không tiền cũng ế

– Sắc như mác không bạc cũng cùn

– Nhà không móng như bóng không người

– Cơm không rau như đau không thuốc

– Quân không tướng như hổ không đầu

– Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư

– Thuyền theo lái, gái theo chồng

– Đường đi hay tối, nói dối hay cùng

– Lòng vả cũng như lòng sung

– Lòng bí cũng như ruột bầu

– Lòng trâu cũng như dạ bò

– Cơm có bữa, chợ có chiều

– Buôn có bạn, bán có phường

– Củi mục khó đun, chổi cùn khó quét

– Trai xóm trại, gái hàng cơm

– Trai lính tuần, lính thú, gái cửa phủ, cửa đồn

– Thịt trâu không tỏi, ăn gỏi không mơ

– Làm ruộng có năm, nuôi tằm có lứa

– Quân vô tướng như hổ vô đầu

– Nam vô tửu như kỳ vô phong

– Ruộng không phân như thân không của

– Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm

– Gái có chồng như rồng có mây

– Gái không chồng như cối xay chết ngõng

– Con có cha như nhà có nóc

– Cơm có canh như tu hành có vãi

– Cơm vào dạ như vạ vào thân

– Trai có vợ như rợ buộc chân

– Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con

– Hùm chết để da, người ta chết để tiếng

– Gái gặp hơi trai như thài lài gặp cứt chó

– Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống

– Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ

– Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai

– Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai

– Củi khô dễ nấu, chồng xấu dễ xài

– Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái chẳng hay ghen chồng

– Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng

– Thuyền không lái, gái không chồng

– Thuyền theo lái, gái theo chồng

– Trai chở đò ngang, gái bán hàng trầu miếng

– Trâu kén cỏ trâu gầy, trò kén thầy trò dốt

– Một năn chăn tằm bằng ba năm làm ruộng

– Một năm ăn trộm bằng ba năm làm

– Một sào nhà bằng ba sào đồng

– Tằm đói một bữa bằng tằn đói nửa năm

– Một quả cà bằng ba thang thuốc

– Một tiền gà bằng ba tiền thóc

– Một lần sa bằng ba lần đẻ

– Một mẹ già bằng ba then cửa

– Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp

– Một miếng khi đói bằng một gói khi no

– Một mẹ già bằng ba đứa ở

– Một đêm nằm bằng năm ở

– Một người lo bằng kho người làm

– Một bát cơm rang bằng một sàng cơm nấu

– Một điều nhịn bằng chín điều lành

– Một người nhà bằng ba người mượn

– Một lạy sống bằng đống lạy chết

– Một thời loạn bằng vạn thời bình

– Một ngày dương gian bằng ngàn ngày âm phủ

– Một nạm gió bằng một bó chèo

– Trôn nồi năm bằng cằm niêu mốt

– Một qua tiền công không bằng một đồng tiền thưởng

– Ba đấm không bằng một đạp

– Một trăm ông chú không bằng một mụ bà cô

– Một trăm đám cưới không bằng hàm dưới cá trê

– Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông

– Chửi cha không bằng pha tiếng

– Trăm hay không bằng tay quen

– Một kho vàng không bằng một nang chữ

– Ruộng sâu, trâu nái, không bằng con gái đầu lòng

– Ải thâm không bằng dầm ngấu

– Vợ mới cưới không bằng đi xa về

– Một mâm cẩn xui không bằng cái mui cá mè

– Quen tay không bằng hay làm

– Quần hồ bất như độc hổ (Nhiều cáo không bằng một hổ)

– Sợ mẹ cha không bằng sợ tháng ba dài ngày

– Trăm nghe không bằng một thấy

– Ruộng đất bề bề không bằng một nghề trong tay

– Phép vua thua lệ làng

– Lệ làng hơn phép nước

– Thế vui thua tục dân

– Khôn lỏi sao bằng giỏi đàn

– Cứt cá bằng lá rau

– Yếu trâu cũng bằng khỏe bò

– Một nghề cho chín còn hơn chín nghề

– Xấu đều hơn tốt lỏi

– Sống đục sao bằng thác trong

– Dại bầy hơn khôn độc

– Ngốc đàn hơn khôn độc

– Tốt số hơn bố giàu

– Đẹp nết hơn đẹp người

– Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

– Cái nết đánh chết cái đẹp

– Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

– Một giọt máu đào hơn ao nước lã

– Rộng bụng hơn rộng nhà

– Rậm người hơn rậm của

– Xanh trong nhà hơn già ngoài đồng

– Nhất kinh kỳ, nhì phố Hiến

– Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện

– Nhất cảm phòng, nhì lòng lợn

– Nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền

– Nhất cận thị, nhị cận giang

– Nhất mẹ, nhì cha, thứ ba bà ngoại

– Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống

– Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu

– Nhất gái một con, nhì rượu ngon nửa chén

– Nhất bồ câu ra ràng, nhì bắp rang rưới mặn

– Thứ nhất đom đóm vào nhà, thứ nhì chuột túc thứ ba bông đèn

– Nhất hay chữ, nhì dữ đòn (hay chữ không bằng dữ đòn)

– Thứ nhất giặc phá, thứ nhì nhà cháy (giặc phá không bằng nhà cháy)

– Nhất có râu nhì bầu bụng

– Nhất thì nhì thục

– Nhất thủ, nhì vĩ

– Nhất vợ, nhì trời

– Nhất nhập nhoạng, nhì rạng đông

– Nhất cày ải, nhì rải phân

– Nhất bì, nhì cốt

– Nhất vợ dại, nhì cờ bạc, ba nợ đòi

– Nhất con, nhì cháu, thứ sáu người dưng

– Nhất dáng, nhì men, ba chàm, bốn vẽ

– Nhất duyên, nhì phận, tam phong thổ

– Nhất chơi tiên, nhì giỡn tiền

– Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một

– Nhất thì học sĩ, nhì thì canh nông

– Nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ rỗ

– Nhất bạch, nhì hoàng, tam khoanh, tứ đốm

– Làm phúc quá tay, ăn mày không kịp

– Khôn làm văn tế, dại làm văn bia

– Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại

– Chim khôn tiếc lông, người ngoan tiếc lời

– Năng ăn hay đói, năng nói hay lầm

– Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng

– Làm thầy thì dễ, thế chuộng thì khó

– Xa chùa vắng trống, gần chùa inh tai

– Đời cha vo tròn, đời con bóp bẹp

– Đẹp vàng son, ngon mật mỡ

– Một đêm nằm, một năm ở

– Khéo vá may, vụng chày cối

– Khôn ăn cái, dại uống nước

– Khôn thì ngoan, gian thì nồng

– Gươm hai lưỡi, miệng trăm hình

– Thua keo này, bày keo khác

– Được thì đùa, thua thì chịu

– Buôn gặp chầu, câu gặp chỗ

– Trước lạ sau quen

– Cũ người mới ta

– Đục nước béo cò

– Giậu đổ bìm leo

– Khôn nhà dại chợ

– Văn mình vợ người

– Tiền phú hậu bần

– Tre già măng mọc

HOA QUẢ QUA CA DAO

Hoa trắng như hoa mận,
Quả đẹp tựa quả đào,
Tên gọi mới đẹp sao,
Hát cười trong giấc ngủ ? (Câu đố Việt Nam: Quả mơ)
Có hoa có quả mới hay,
Một trăm thứ quả em nay đã từng.
Cứng thì quả ổi còn ương,
Mềm thì quả thị chín vàng đã lâu.
Ðỏ lòng thì đúng quả nâu,
Nhuộm khăn, đan áo, đẹp mầu đời ta.
Thơm thơm, mát mát quả na,
Biếu cha, biếu mẹ hơn là chén son.
Ðắng thì bồ kết bồ hòn,
Ðể ta tắm gội cho trơn mái đầu.
Ngọt thì long nhã, táo tàu,
Bưởi đường, cam, quít, lựu đào nâng niu.
Chua thì quả hạnh, quả mai,
Quả sấu, quả rọc, quả gai trái mùa.
Ðôi ta còn ngọt chửa chua,
Ðừng tham táo rụng, đừng chê khế rừng.
Thanh yên, phật thủ thơm lừng,
Quả thơm mặc quả, xin đừng quên nhau.
Bé thì quả vối, quả dâu,
Nhớn thì quả mít chia nhau mới đành.
Ðể ta chọn cá nấu canh,
Cà chua chín đỏ rấp ranh đi tìm.
Tình cờ ta gặp nhau đây,
Quả cau ta bổ, chia tay mời chào.
Ðôi ta kết nghĩa tương giao,
Nào là quả mận quả đào đong đưa.
Bùi ngùi quả ấu quả dừa,
Xanh xanh quả mướp, quả dưa, quả bầu.
Hạt tiêu cay đắng đã dầu,
Ớt kia cay đắng ra mầu xót xa.
Mặt kia mà tưới nước hoa,
Ai đem mướp đắng mà hoà mạt cưa ?
Thủy chung cho bác mẹ ưa,
Ðừng như đu đủ nắng mưa dãi dầu.
Yêu nhau đá bắc nên cầu,
Bồ quân lúc chín ra màu tốt tươi.
Hẹn chàng cho đủ mười mươi,
Thì chàng kết tóc ở đời với em.

ST !

RAU QUA CA DAO TỤC NGỮ

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè về rau
Xấc láo hỗn hào
Là rau ngành ngạnh
Trong lòng không tránh
Vốn thiệt tâm lang
Đất rộng bò ngang
Là rau muống biển
Quan đòi thầy kiện
Bình bát nấu canh
Ăn hơi tanh tanh
Là rau dấp cá
Không ba có má
Rau má có bờ
Thò tay so đo
Nó là rau nhớt
Ăn cay như ớt
Vốt thiệt rau răm
Sống tới ngàn năm
Là rau vạn thọ
Tay hay xớ rớ
Vốn thiệt rau co

Nghe vẻ nghe ve
Làng bắt chẳng cho
Chính là rau húng
Lên chùa mà cúng
Lại có hành hương
Giục giã buông cương
Là rau mã đề

ST !

Phương ngữ Nam bộ trong ca dao về tình yêu

Phương ngữ Nam Bộ là một dạng từ ngữ địa phương của vùng đất Nam bộ. Nó thể hiện cách nói, cách sử dụng từ ngữ, kiểu phát âm riêng của con người Nam bộ. Phương ngữ Nam bộ còn là nơi chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, sinh hoạt xã hội của con người và vùng đất Nam bộ.

Tìm hiểu phương ngữ Nam bộ được thể hiện qua ca dao Nam bộ là một cách nhằm khẳng định thêm tính độc đáo, sắc sảo, phong phú và đa dạng của con người Nam bộ xưa trong việc sử dụng lời ăn tiếng nói của mình.

Ca dao Nam bộ trước hết là ca dao của người Việt ở Nam bộ nên nó mang đầy đủ yếu tố của vùng đất Nam bộ, trong đó có việc sử dụng từ ngữ của con người ở đây. Sống giữa thiên nhiên hài hòa và đa dạng với rừng tràm bạt ngàn và một vùng sông nước bao la, trong lời ăn tiếng nói của con người ở đây không khỏi ảnh hưởng của các hình tượng thiên nhiên này. Cho nên, có thể nói, giàu tính hình tượng là một đặc điểm trong cách dùng từ của ca dao Nam bộ:

Chồng chèo thì vợ cũng chèo
Hai đứa cùng nghèo lại đụng với nhau.

“Đụng” ở đây là “lấy”, “lấy nhau” hay nói cho văn hoa một chút là “kết duyên” nhau. Với các từ trên, người Nam bộ có thể hoàn toàn sử dụng được, nhưng đôi khi con người ở đây không dùng những khuôn mẫu có sẵn đó, mà lại dùng từ “đụng” rất giàu hình tượng này để tạo điểm nhấn, mang sắc thái mạnh. Chính điều này đã làm phong phú thêm cho kho tàng phương ngữ Nam Bộ.

* * *

Giàu tính so sánh và cụ thể cũng là một đặc điểm của ca dao Nam bộ. Nam bộ là một vùng sông nước, có hệ thống sông ngòi chằng chịt nên hình ảnh chiếc ghe, con đò, con cá, con tôm, cần câu, cái lờ… là những vật rất quen thuộc đối với người dân nơi đây. Quen thuộc đến mức đã đi vào tâm thức của họ và được thể hiện qua lời ăn tiếng nói hằng ngày, cũng như đã âm thầm đi vào ca dao:

Thân em như cá trong lờ
Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

“Cá – lờ” là một hình tượng cụ thể, tác giả dân gian đã lấy hình tượng cụ thể này để làm đối tượng so sánh với con người, cụ thể ở đây là cô gái. Trường hợp này, ta cũng sẽ bắt gặp rất nhiều trong ca dao Nam bộ.

* * *

Một đặc điểm nữa trong việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trong ca dao Nam bộ là giàu tính cường điệu, khuếch đại. Đây là cách nói thể hiện rõ nét sự lạc quan và tính cởi mở của con người Nam bộ. Tính giàu cường điệu, khuếch đại này được con người Nam bộ sử dụng thể hiện tính chất phác, mộc mạc, độc đáo, gây được ít nhiều cảm xúc cho người đọc:

Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình
Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao huỳnh vội xếp vi.

Rõ ràng, chỉ than có một tiếng mà “nát miễu xiêu đình” thì quả là nói quá. Nhưng chính cách nói quá này mới tạo được ấn tượng, gây được cảm xúc, tạo được sự chú ý cho đối phương.

Hay để bộc lộ tình thương của mình, người Nam bộ không ngại nói thẳng, nói quá, nói cường điệu, nói khuếch đại. Họ nói cốt sao cho hết cái thương đang cháy bỏng trong lòng mình:

Anh thương em,
Thương lún, thương lụn,
Thương lột da óc,
Thương tróc da đầu,
Ngủ quên thì nhớ,
Thức dậy thì thương

* * *

Giàu tính dí dỏm, hài hước cũng là một trong những đặc điểm trong cách sử dụng từ ngữ trong ca dao Nam bộ. Ca dao Nam bộ, ngoài những cách nói cường điệu, giàu hình tượng, đôi lúc có phần thâm trầm, sâu lắng còn có những cách nói mang tính hài hước, dí dỏm. Đây là tinh thần lạc quan trong tính cách của con người Nam bộ. Chính tinh thần lạc quan này đã tiếp thêm cho họ sức mạnh trong việc chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt, với thú dữ hoành hành. Tuy là nói dí dỏm, hài hước nhưng không hẳn là một cách nói chơi, mà là có ngụ ý, ngụ tình. Đó cũng là kiểu nói: “nói chơi nhưng làm thiệt”:

Bên dưới có sông, bên trên có chợ
Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

Rõ ràng, đây là cách nói mang tính chất vừa nói chơi lại vừa nói thiệt. Bông đùa đấy nhưng cũng là thật đấy. Nếu đối phương không chịu thì bảo là “nói chơi”. Còn nếu ưng thuận thì tiếp tục lấn tới tán tỉnh. Và trong bài ca dao sau, cũng không hẳn là dí dỏm, hài hước, nói cho vui một cách đơn thuần:

Trời mưa cóc nhái chết sầu
Ễnh ương đi cưới nhái bầu không ưng
Chàng hiu đứng dựa sau lưng
khều khều móc móc cứ ưng cho rồi.

* * *

Có cách nói hài hước, dí dỏm, lại có cách nói cường điệu, khuếch đại, ca dao Nam bộ cũng có những cách nói rất giản dị, chân tình. Trong hoàn cảnh tự tình với nhau, đôi khi họ không dùng những từ hoa mỹ, không nói những từ chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, mà chỉ nói một cách mộc mạc, bình dân, cốt sao bày tỏ được lòng mình:

Anh về em nắm vạt áo em la làng
Phải bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.

Quả là mộc mạc, quả là chân tình. Trong từng câu, từng chữ không có gì khó hiểu cả, tạo được sự cảm thông và gây được cảm xúc cho người đọc.

Hay:
Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây
Qua tới đây không cưới được cô hai mày
Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở vô.

Phương ngữ Nam bộ ra đời tuy có muộn hơn so với phương ngữ của các vùng khác, nhưng không vì thế mà nó nghèo nàn, hời hợt, mà trái lại nó rất đa dạng, phong phú và sâu lắng. Nó chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán cùng tính cách của con người Nam bộ. Phương ngữ Nam bộ không chỉ đơn thuần là khẩu ngữ của người Nam Bộ mà nó đã bước vào văn học nghệ thuật với một tư thế rất đường hoàng. Những câu ca dao Nam bộ vừa dẫn trên là một minh chứng cho điều này.

Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

Thuyduongnsx tuyển chọn

1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu
Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

2. Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi
Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

4. Đường về đêm tối canh thâu
Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa
hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng
trâu đá gà què cẳng con trâu

7. Ai nói chăn trâu là khổ??
Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

8. Dù ai buôn đâu bán đâu,
Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,
Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.
Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,
Thức mà giữ lấy con trâu con bò.
Nằm đây nào đã ngủ cho,
Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

10. Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.
Ở đời khôn khéo chi đâu,
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

11. Chăn trâu chả biết mặt trâu
Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

14. Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia.
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông,
thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.
“Con trâu là đầu cơ nghiệp

15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

16. Trên trời có đám mây xanh (4)
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì ta lấy được nàng
Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu
Thanh Hóa cung đốn trầu cau
Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò
Phú Thọ quạt nước hỏa lò
Hải Dương rọc lá giã giò gói nem
Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền
Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi
An Giang gánh đá nung vôi
Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè
Quảng Bình Hà Tĩnh thuyền ghe
Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu
Anh mời khắp nước chư hầu
Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang
Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng
Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

17. Trời mưa trời gió đùng đùng
Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
Gánh về trồng bí trồng bàu
Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

18. Nam mô Bồ Tát
Chẻ lạt đứt tay
Đi cày trâu húc
Đi súc phải cọc
Đi học thày đánh
Đi gánh đau vai
Nằm dài nhịn đói

19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục
Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông
Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

21. Thất là mất
Tồn là còn
Tử là con
Tôn là cháu
Lục là sáu
Tam là ba
Gia là nhà
Quốc là nước
Tiền là trước
Hậu là sau
Ngưu là trâu
Mã là ngựa

22. Trai thì cày ruộng khiển trâu
Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

23. Trăm năm còn có gì đâu
Miếng trầu liền với con trâu một vần

24. Trâu bò được ngày phá đỗ
Con cháu được ngày giỗ ông

25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

27. Trâu kia kén cỏ bờ ao
Anh kia không vợ đời nào có con
Người ta con trước, con sau
Thân anh không vợ như cau không buồng
Cau không buồng như tuồng cau đực
Trai không vợ cực lắm anh ơi
Người ta đi đón, về đôi
Thân anh đi lẻ, về loi một mình

28. Của chua ai nấy cũng thèm
Em cho chị mượn chồng em vài ngày
Chồng em đâu phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài
Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

30. Dù ai buôn bán nơi đâu
Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu
Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

32. Thương nhau vì nợ vì duyên
Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần
Làm thân con nhện mấy lần vương tơ
Về đâu trong đục mà chờ
Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu
Số em giàu, lấy khó cũng giàu
Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo
Phải duyên phải kiếp thì theo
Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

34. Chẳng qua số phận long đong
Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

35. Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.
Ai ơi! bưng bát cơm đầy
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

36. Ru Con

Bao giờ cho đến tháng ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.
Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;
Con gà, be rượu nuốt người lao đao.
Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Lúa mạ nhảy lên ăn bò;
Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.
Gà con đuổi bắt diều hâu;
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.
————
Chú thích:
(1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn
(2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước
(3) cỏ lác : thứ cỏ xấu
—————
37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.
Vợ dại thì đẻ con khôn,
Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

38. Trâu chậm thời anh bán đi,
Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

39. Trâu anh con cưỡi con dòng,
Có con đi trước lòng thòng theo sau.

40. Trâu anh con cưỡi con dòng,
Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

42. Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia không vợ đời nào có con.

43. Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,
Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

45. Em như ngọn cỏ phất phơ
Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

46. Mình rằng mình quyết lấy ta
Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này
Hăm ba nay đã đến ngày
Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng
Tháng giêng năm mới chưa nên
Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai
Tháng hai có đỗ có khoai
Ta lại vật nài cho đến tháng tư
Tháng tư ngày chẳn tháng dư
Ta lại chần chừ cho đến tháng năm
Tháng năm là tháng trâu đầm
Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên
Tháng sáu lo chửa kịp tiền
Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu
Tháng bảy là tháng mưa ngâu
Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu
Tháng tám là tháng trăng thu
Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi
Tháng chín là tháng mưa rươi
Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông
Quanh đi quẩn lại em đã có chồng
Như chim trong lồng, như cá cắn câu

47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,
Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.
Có cưới thì cưới con trâu,
Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

48. Ông giẳng ông giăng,
Xuống chơi với tôi,
Có bầu có bạn,
Có ván cơm xôi,
Có nồi cơm nếp,
Có nệp bánh chưng,
Có lưng hũ rượu,
Có chiếu bám đu,
Thằng cu xí-xóa,
Bắt trai bỏ giỏ,
Cái đỏ ẵm em,
Đi xem đánh cá,
Có rá vo gạo,
Có gáo múc nước,
Có lược chải đầu,
Có trâu cày ruộng,
Có muống thả ao,
Ông sao trên trời.
(Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

49.Bước sang tháng sáu giá chân,
Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.
Con chuột kéo cầy lồi lồi,
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.
Vườn rộng thì thả rau rong.
Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.
Đàn bò đi tắm đến trưa,
Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.
Voi kia nằm ở gặm giường,
Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.
Chuồn kia thấy cám liền ăn,
Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.
Trời mưa cho mối bắt gà,
Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.
Lươn nằm cho trúm bò vào,
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Thóc giống cắn chuột trong bồ,
Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.
Chim chích cắn cổ diều hâu,
Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.
Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.
Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.
Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.
Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.
Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.
Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.
Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

50. Nam mô bồ tát,
Chẻ lạt đứt tay,
Đi cày trâu húc,
Đi xúc phải cọc,
Đi học thầy đánh,
Đi gánh đau vai,
Nằm dài nhịn đói.

51. Con kiến mày kiện củ khoai,
Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.
Nhà tao chín đụn mười trâu,
Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

52. Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

55. Anh về bán ruộng cây da
Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi
Số phận em giao phó cho trời xanh
Lấy anh em không lấy,
Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ
Vốn em cũng chẳng bơ thờ
Em đã hằng chọn trong lóng đục,
Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên
Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,
Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm
Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,
Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc
Em muốn lấy chú thợ mộc,
Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà
Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,
Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt
Em muốn lấy người hạ bạc,
Nhưng lại sợ mang lưới mang chài
Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,
Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới
Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,
Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm
Bằng lấy anh đặt rượu làm men,
Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi
Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,
Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn
Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,
Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví
Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,
Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng
Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,
Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng
Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,
Nhưng lại sợ việc trống việc gông
Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,
Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy
Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,
Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan
Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,
Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi
Em muốn lấy anh hát bè hát bội,
Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng
Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,
Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…
Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra
Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn
So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học
Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền
Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)
Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

57. Hút sách là chuyện chẳng lành
Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Cả ba việc ấy đều là khó thay.

59. Mười năm cắp sách theo thày
Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,
Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.
Đố con gì? (Con trâu)

61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi
Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày
Ai mà giã gạo ba chày
Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng
Sẵn tiền mua bạc mua vàng
Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh
Sáng trời chàng mới tập binh
Em ngồi vò võ, một mình em lo
Ruộng nương không ai cày cho
Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!
Ruộng người cày cấy xôn xao
Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng
Người ta có vợ có chồng
Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui
Nhà ta chỉ có em thôi
Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo
62.Ai ơi uống rượu thì say
Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.
63.Anh đánh thì tôi chịu đòn
Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa
Anh đánh thì tôi xin thưa
Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu
Ăn quen chừa được chẳng lâu
Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng
64. Ba vợ bảy tám nàng hầu
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.
65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng
66.Anh em bất nghĩa chi khèo
Anh dữ như mèo tôi lại như trâu
67. Bé ăn trộm gà
Già ăn trộm trâu
Lâu nữa làm giặc
68. Cầm trâu cầm áo cầm khăn
Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !
69. Cái bống mặc xống ngang chân
Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi
Trèo lên trái núi mà coi
Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng
Túi vóc mà thêu chỉ hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi
Một mai chồng đỗ, vinh quy
Võng anh đi trước, em thì võng sau
Tàn quạt, hương án theo hầu
Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!
70.Cái kiến mà kiện củ khoai
Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu
Nhà tao chín đụn mười trâu
Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân
Cầu nầy là cầu ái ân
Một trăm con gái rửa chân cầu nầy
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh
Nhà anh có một cây chanh
Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa
Nhà anh có một mụ già
Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên
Ăn cỗ khì đòi ngồi trên
Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi
Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai
Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc
Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi
Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú
Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu
Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…
(hình như vẫn còn tiếp thì phải)

72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu
Tham vì ông lão tốt râu mà hiền
Chẳng tham ruộng cả ao liền
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.
Chẳng tham nhà ngói ba tòa
Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

73.Chồng dữ thì em mới rầu
Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi
Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi (Chọn trâu)
75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày (Chọn trâu)

77.Chết lỗ chân trâu

78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

79.Có xa dịch lại cho gần
Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi
Hay là nặng lắm anh ơi!
Để em bớt lại một môi rau cần.
Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.
Dẫn trâu sợ họ máu hàn
Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

80. Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu
Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

82.Con tằm nó ăn lá dâu
Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại
Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

84.Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

85.Đàn đâu mà gảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

86.Em thì canh cửi việc nhà
Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng
Trước là vinh hiển tổ đường
Bõ công đèn sách lưu hương con nhà
Rước vinh quy về nhà bái tổ
Ngả trâu bò làm lễ tế vua
Họ hàng ăn uống say sưa
Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

87.Dưa gang một chạp thì trồng
Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo
Tháng hai đi tậu trâu bò
cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

88.Được voi to trâu bò chẳng kể
Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa
Một lời đã trót nói ra
Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

89.Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Một người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lòng
Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát
Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc
Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh
Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

91. Vợ bé nghé con
Sẩy đàn tan nghé

Hòn đá cheo leo,
Con trâu trèo, con trâu trợn
Con ngựa trèo, con ngựa đổ.
Anh thương em lao khổ
Tận cổ chí kim,
Anh thương em khó kiếm khôn tìm.
Cây kim luồn qua sợi chỉ,
Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,
Nên hay không nên, anh ở em về,
Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

92.Lạc đường nắm đuôi chó
Lạc ngõ nắm đuôi trâu

93.Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày
Ai ơi! bưng bát cơm đầy
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ
Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng
Một huyền hai lái chẳng xong
Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

95.Lộn con toán bán con trâu

96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng
Những lời anh nói cho lòng em say
Một trâu anh sắm đôi cày
Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!
Chàng ơi! chàng cho em ra
Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

97.Một rằng mình quyết lấy ta
Ta về bán cửa bán nhà mà đi
Ta về bán núi Ba Vì
Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu
Ta về bán hết ngựa trâu
Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung
Bán ba mươi sáu Thổ công
Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân
Bán từ giờ Ngọ giờ Dần
Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi
Ta về bán cả que cời
Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn
Ta về bán trống bán kèn
Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

98.Nghé hành nghé hẹ
Có khôn theo mẹ
Có khéo theo đàn
Chớ có chạy quàng
Có ngày lạc mẹ
Việc nhẹ phần con
Kéo nỉ kéo non
Kéo đến quanh tròn
Mẹ con ta nghỉ

99.Trăm năm cơ hội tình cờ,
Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.
Muốn cho thuận nẻo đi về,
Anh sang làm rể, em về làm dâu.
Số giàu lấy khổ cũng giàu,
Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Phải duyên phải kiếp thì theo,
Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.
Em ơi! chữ vị là vì,
Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,
Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

100.Trời mưa lâm râm
Cây trâm có trái
Con gái có duyên
Đồng tiền có lỗ
Bánh tổ thì ngon
Bánh dòn thì béo
Cái kéo thợ may
Cái cày làm ruộng
Cái xuổng đắp bờ
Cái lờ đơm cá
Cái ná bắn chim
Cái kim may áo
Cái giáo đi săn
Cái khăn bịt đầu
Cái cầu đi chợ
Có vợ đàn ông
Có chồng con gái
Cái trái mù u
Ông cu đi câu
Để trâu ăn lúa
Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi
Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già.

CA DAO BẮT ĐẦU BẰNG CHỮ A

1:Ác tăng đội lốt thầy tu
Thấy cô gái đẹp bỏ chùa đi theo.
2:Ai ai cũng có duyên phần
Bon chen mặc kẻ, tảo tần thây ai
3:Ai ai cũng tưởng bậu hiền
Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai
4:Ai ai cũng tưởng bậu hiền
Vừa rờ tay bậu, bậu nghiền nát thây
5:Ai ăn cau cưới thì đền
Tuổi tôi còn bé chưa nên lấy chồng
6:Ai chơi ta cũng chơi cùng
Chơi sen quân tử chơi tùng trượng phu
7:Ai có thân thì nấy lo
Ai có bò người ấy giữ
8:Ai coi lên núi mà coi
Con bà Quản tượng cỡi voi bành vàng
9:Ai đâu thương kẻ ngu si
Ai đâu thương kẻ nằm lì mà ăn
10:Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay cao
11:Ai đi gánh vác non sông
Để ai chứa chất sầu đông vơi đầy
12:Ai đừng tệ bạc ai ơi
Không thương sao lại thả lời bướm ong
13:Ai kêu là rạch em gọi là sông
Phù sa theo nước chảy mênh mông
Sông ơi, thấm mát thời con gái
Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng
14:Ai mà nói dối cùng chồng
Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao
15:Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
16:Ai ơi chớ uống mà say
Họ hàng ghét bỏ, chê bai lắm lời

Posted by: minhanhtran80 | 2009/10/14

TUC NGU & CA DAO VIETNAM

TUC NGU & CA DAO VIETNAM
LỜI GIỚI THIỆU

Tục ngữ, ca dao là phần phong phú nhất trong văn học dân gian của dân tộc ta. Đây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên nó luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế hệ. Chính vì vậy nó luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái hình mặc dù có thay đổi một vài từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau.

Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nội dung súc tích. Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và con người. Nói như Gorki: “Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân dân lao động”. (Gorki bàn về văn học, NXB Văn học, H. 1965, tập I, trang 229) Đồng thời tục ngữ cũng biểu hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với những vấn đề của cuộc sống. Tục ngữ thể hiện một phần quan trọng của tư liệu khoa học dân gian và triết lý dân gian. Gắn với lao động, với tự nhiên và những thăng trầm của lịch sử, xã hội, nhân dân đã bộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo đức của mình.

Trong tục ngữ, qua những nhận xét tinh tế về thời tiết; về những kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi, những phê phán sắc sảo: “Nén bạc đâm tọac tờ giấy”, “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”; những tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa: “Người là hoa đất”; “Người sống đống vàng”; những đức tính quý báu của nhân dân: “Có công mài sắt có ngày nên kim”; “Đói cho sạch, rách cho thơm”; những chân lý từ ngàn đời: “Năm ngón tay có ngón dài, ngón ngắn”; “Nước chảy đá mòn”; “Tre già măng mọc”… ý nghĩa của tục ngữ trước hết là ở nội dung. Tuy nhiên ý nghĩa của thể loại này còn ở chỗ biểu hiện được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ dân tộc, ở chỗ chứng minh được rằng ngôn ngữ văn học dân gian là mẫu mực về tính chính xác, tính sinh động và tính hình tượng. Qua tục ngữ có thể thấy cách nhân dân phát huy những ưu điểm của tiếng Việt về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp để biểu hiện tư tưởng của mình. Thông qua việc sáng tác tục ngữ, nhân dân đã rèn đúc, mài giũa ngôn ngữ dân tộc và làm cho nó ngày càng tinh xảo, chính xác, trong sáng và phong phú hơn.
Mỗi câu tục ngữ đều dùng hình ảnh, sự việc, hiện tượng cụ thể để nói lên ý niệm trừu tượng, dùng cái cá biệt để nói lên cái phổ biến vì vậy ở mỗi câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen (nghĩa hẹp) và nghĩa bóng (nghĩa rộng). Cái cụ thể, cá biệt tạo nên nghĩa đen; cái trừu tượng, phổ biến tạo nên nghĩa bóng. Đặc biệt là ở những câu tục ngữ nói về quan niệm, lối sống và đạo đức của nhân dân: “Môi hở răng lạnh”, “Chó cắn áo rách”, “Đục nước béo cò”, “Năng nhặt chặt bị”…

Hình ảnh trong tục ngữ là những hình ảnh từ cuộc sống phong phú nhiều màu, nhiều vẻ được nhân cách hóa rất linh hoạt và sinh động: “Đũa mốc chòi mâm son”, “Khố son bòn khố nâu”… hầu hết các câu tục ngữ đều có vần, nhiều nhất là vần lưng nên nhịp điệu nhanh, mạnh, vững chắc : “Được làm vua, thua làm giặc”, “Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu”, “Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm”, “Gái một con trông mòn con mắt”… còn những câu không vần thường giữ được tính chất nhịp nhàng theo cách cấu tạo cân đối của các vế: “Già néo đứt dây”, “Vỏ quýt dầy có móng tay nhọn”. Cũng có những câu không vần, không đối nhưng vẫn giầu chất nhạc, chất hàm súc của thơ: “Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”, “Nằm trong chăn mới biết chăn có rận”, “Dao sắc không gọt được chuôi”…

Nghệ thuật tục ngữ biểu hiện đầy đủ lối suy nghĩ dân gian của dân tộc về giới tự nhiên và đời sống xã hội đồng thời cũng biểu hiện cách nói của dân tộc ta qua nhiều thế hệ, trong tiến trình lịch sử lâu dài. Nếu như tục ngữ thiên về lý trí, đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca dao lại thiên về tình cảm (nội dung trữ tình) và ca dao là một thể loại đã thể hiện được hết cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ văn học dân gian. Cũng như tục ngữ hoặc bất cứ thể loại văn học nào khác, ý nghĩa chủ yếu có thể thấy ở ca dao vẫn là về mặt nội dung, có điều là nội dung ấy thường đượm chất thơ. Nếu cho rằng một đặc điểm của thơ là ở chỗ biểu hiện một cách cô đúc nhất tư tưởng và tình cảm thì cũng có thể coi tục ngữ như là một dạng của thơ. Tuy nhiên chất thơ chỉ có thể thấy một cách đầy đủ và toàn diện trong ca dao. sở dĩ như thế một phần cũng chính là vì trong ca dao không những hiện thực được phản ánh một cách cô đúc hơn là trong ngôn ngữ hàng ngày, hơn cả trong văn xuôi mà còn là vì trong ca dao tư tưởng và tình cảm được chắp đôi cánh kỳ diệu của sự tưởng tượng, điều này ít thấy có ở trong tục ngữ.
Có đôi cánh kỳ diệu ấy tâm hồn của nhân dân thể hiện được đầy đủ hơn tất cả sự phong phú và tầm rộng lớn, cao cả của nó. Tất nhiên là tính lãng mạng mà đầu óc tưởng tượng phong phú của nhân dân đã đem lại cho ca dao không hề tách rời và đối lập với tính hiện thực.
Cũng như tục ngữ và các thể loại văn học dân gian khác, ca dao là tấm gương trung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân. Đó là cuộc sống cần cù, giản dị và chất phác, đậm đà phong vị dân tộc. Đó là cuộc đấu tranh anh hùng trong dựng nước và giữ nước. Đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương ái giữa những con người lương thiện. Đó là nhận thức sắc bén về bạn, về thù, về chính nghĩa và phi nghĩa. Tóm lại cũng như ở tục ngữ, qua ca dao có thể thấy rõ hiện thực, tức là “cái vốn có”. Nếu tục ngữ thường dừng lại ở nhận thức “cái vốn có” thì ca dao lại thường tiến thêm một bước nữa rất quan trọng là bộc lộ nguyện vọng của nhân dân đối với việc cải tạo hiện thực.

Ca dao không những chỉ phản ánh “cái đã có” mà còn đề xuất ra “cái nên có”. Ca dao chẳng những muốn giúp cho việc nhận thức cuộc sống mà còn muốn xây dựng lý tưởng về cuộc sống.
Thực ra giữa hai thể loại tục ngữ và ca dao, không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau. Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và cũng có những câu ca dao chỉ có hình thức là ca dao còn nội dung lại là tục ngữ! khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc thì lúc đó tục ngữ sẽ tiếp cận với ca dao: “Ai ơi đừng chóng thì chày – Có công mài sắt có ngày nên kim”, ” Chim khôn chưa bắt đã bay – Người khôn ít nói, ít hay trả lời”, “Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” v.v… đó là những câu thường được nhân dân sử dụng như tục ngữ. Đồng thời do nội dung cô đọng, hàm súc, nhiều câu ca dao chủ yếu là những câu ca dao nhận định về con người và việc đời lại được dùng như tục ngữ: “Hơn nhau tấm áo, manh quần – Đến khi cởi trần ai cũng như ai”, “Đem cực mà đổ lên non – Còng lưng mà chạy cực còn theo sau”.

Thế nhưng về cơ bản thì ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình, xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động… thì bao giờ cũng là bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên ở ca dao cái tôi trữ tình được nổi lên một cách rõ nét.
Ca dao phản ánh lịch sử, miêu tả khá chi tiết phong tục, tập quán trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân lao động nhưng trước hết là bộc lộ tâm hồn dân tộc trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và đời sống xã hội. Từ cuộc sống lao động vất vả của nhân dân đã nảy sinh nhiều câu ca dao thể hiện các hình thức lao động và nghề nghiệp khác nhau.

Những câu ca dao về đất nước và lịch sử, ca ngợi những danh lam thắng cảnh, những đặc sản của các địa phương, truyền thống chống ngoại xâm, chống ách áp bức phong kiến của nhân dân. Phong phú nhất, sâu sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ. Trai gái gặp gỡ tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè, đình đám, vui xuân. Họ có thể thổ lộ với nhau bằng câu “ví”, bằng hình thức giao duyên trong các hình thức đối đáp nam nữ. Nội dung những câu ca dao này phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái, cung bậc của tình yêu: những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh từ những rủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách.

Tình yêu bao giờ cũng gắn liền với lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong đời sống hàng ngày của nhân dân.

Ca dao miền Bắc:
“Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu”

Ca dao của Nam Trung Bộ:
“Đã mang lấy cái thân tằm
Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ
Đêm nằm tơ tưởng tưởng tơ
Chiêm bao thấy bậu, dậy sờ chiếu không”

Và ca dao của Nam Bộ:
“Buổi mai em xách cái thõng (*)
Em xuống dưới ao em bắt con cua
Em bỏ vô trong cái thõng
Hắn kêu cái rỏng, hắn kêu cái rảnh.
Hắn kêu một tiếng chàng ôi!
Chàng đã yên phận tốt đôi
Em nay lẻ bạn, mồ côi một mình”

(*). Cái thõng: một loại chĩnh không lớn lắm, miệng hẹp.
—————————————————–
Đó là quan niệm, đồng thời cũng là nếp tư duy nghệ thuật của nhân dân. Rõ ràng nếp tư duy ấy xuất phát từ cuộc sống lao động, nó chi phối toàn bộ tư tưởng, tình cảm của con người, dù là tình yêu.

Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động được thể hiện bằng những tình cảm tự nhiên, lành mạnh. Giai cấp thống trị và lễ giáo phong kiến muốn bóp chết những tình cảm hồn nhiên, lành mạnh ấy. Vì vậy trong ca dao, bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng kêu đau khổ, xót xa về những trắc trở trong tình yêu. Tình yêu tan vỡ do nhiều nguyên nhân, có phần chủ quan do trai gái không hợp tính nết nhau hoặc còn ngập ngừng, e ngại… nhưng phần lớn là do những nguyên nhân khách quan, những nguyên nhân do xã hội phong kiến gây ra:
– “Vắn tay với chẳng tới kèo
Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em…”
– “Trách ai tham phú, phụ bần
Tham xa mà bỏ nghĩa gần thuở xưa”
Và cũng dễ hiểu, trong ca dao có nhiều bài phản ánh tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của những “chàng trai” và những “cô gái”.
Những câu ca dao về chủ đề hôn nhân và gia đình biểu hiện các mối quan hệ đẹp đẽ giữa tình cảm vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em họ hàng, bà con làng xóm… ở đây hiện lên hình ảnh người phụ nữ lao động đầy rẫy những chịu đựng ngang trái mà vẫn cao thượng:
“Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người.
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay”
Và còn biết bao nhiêu chuyện sầu thảm như là cảnh mẹ chồng nàng dâu, cảnh “có mới nới cũ”, cảnh góa bụa… cho nên lời than thở của người phụ nữ về số phận mình dưới chế độ phong kiến là âm điệu chủ yếu của mảng ca dao này.
Những bài ca dao mang nội dung đấu tranh chống áp bức của chế độ phong kiến, chống đế quốc xâm lược đã vạch trần những cái xấu xa của bọn phong kiến đế quốc, những tội ác của chúng đối với nhân dân ta và lòng căm thù sâu sắc của nhân dân ta đối với chúng. Cùng với những bài ca dao mang nội dung trên là những bài ca dao tập trung mũi nhọn đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực, cụ thể là đả kích, chế giễu tệ mê tín dị đoan, những hủ tục hôn nhân, những thói hư tật xấu như: cờ bạc, rượu chè, nhác làm siêng ăn, tham lam, ích kỷ… ở đây ca dao đã thể hiện tính chiến đấu rất cao:
– “Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”
– “Của bụt mất một đền mười
Bụt vẫn còn cười bụt chửa lấy cho”

Những bài ca dao nhận định về con người và việc đời như là tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quan niệm đạo đức, cách ứng xử của nhân dân càng thể hiện tính cô đọng hàm súc của tục ngữ. Nhiều bài ngắn, chỉ một cặp lục bát thôi mà vẫn sâu sắc về mặt cách sống và hành động:
“Rượu nhạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm”

Ở trên chúng ta mới đề cập đến nội dung ca dao trong một số chủ đề cơ bản. Thực ra nó còn phong phú hơn nhiều, nhất là khi quan sát những bình diện, những dạng thức biểu hiện ca dao sẽ thấy rõ hơn tính đa dạng, độc đáo của nó.
Với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ, ca dao đã vận dụng mọi khả năng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc sống và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống ấy. Ở tục ngữ, tư tưởng thường được biểu hiện qua hình thức ngôn ngữ ngắn gọn. Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn được diễn đạt trong sự vận động rất phong phú và đa dạng của ngôn ngữ văn học. Cho nên thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao, nhiều khi đạt đến tính trong sáng cổ điển. Cảnh vật thiên nhiên, trạng thái xã hội, thể chất và tâm tình con người đã thể hiện qua ca dao với những hình tượng văn học, từ lâu đã trở thành truyền thống và nhiều khi có tính chất mẫu mực về mặt nghệ thuật.

Nói đến ca dao tức là nói đến thơ, về mặt hình thức, trước hết phải nói đến nhịp điệu vì đó là một đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực chủ yếu của thơ. Maiacôpxki nói: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ không giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói về từ lực hay điện. Từ lực hay điện – đó là những dạng của năng lượng (*)
———————————————————————–
(*) Xem: Dẫn luận nghiên cứu văn học – Tuyển tập NXB Đại học Maxcơva 1979. Trang 245.

Như vậy nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nó luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt của thơ.
Ca dao ngắt nhịp hai là phổ biến, nhưng nhiều trường hợp ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo. Như để làm bật lên cái quyết tâm vượt lên mọi khó khăn, trục trặc của những con người đi theo tiếng gọi của tình yêu, ca dao đã bỏ nhịp hai:
– “Yêu nhau/ tam tứ núi/ cũng trèo/
Thất bát sông/ cũng lội/ tam thập lục đèo/ cũng qua/”
– “Thương nhau chẳng quản gì hơn/
Phá Tam Giang/ anh cũng lội/ núi Mẫu Sơn/ anh cũng trèo/”

Câu ca dao dưới đây nhịp điệu không biểu hiện lòng quyết tâm vượt khó của những người muốn được xích lại gần nhau, được chung sống cùng nhau mà khẳng định một sự ly khai dứt khoát:
“Chồng gì anh/ vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây!”
Những câu ca dao trên, nhịp điệu biến hóa thích hợp với việc biểu hiện những tâm trạng khác nhau. Điều này ta thấy rõ ở những bài ca dao biến thể – ca dao ở Trung Bộ và Nam Bộ, một số gắn chặt với dân ca hay nói cách khác, nó thoát thai từ những điệu hò, điệu lý… như: hò khoan, hò giã gạo, hò mái nhì, hò mái đẩy ở Bình – Trị – Thiên, hò Đồng Tháp ở Nam Bộ và lý hoài xuân, lý bơ thờ, lý trách ai, lý dệt vải, lý đan lờ, lý lên núi, lý cây chanh, lý cây cau, lý con ngựa, lý con tằm…(Nam Trung Bộ), lý xe tơ, lý kéo chài, lý con sáo, lý chuồn chuồn, lý con cua… (Nam Bộ). Vì vậy nhịp điệu rất phong phú và sinh động.

Ta hãy nghe một bài ca dao ở Bình – Trị – Thiên:

“Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài biển bắc
Giọt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên
Em muốn làm lơ đi mà ngủ, ngủ cũng không yên
Sợ mưa già nước ngập, biết tựa con thuyền vào đâu?”

Ở đây nhịp điệu đã tạo nên cảm giác như gần, như xa… như khoan, như nhặt của một tâm trạng lo âu, thắc thỏm.
Ca dao Nam Trung Bộ:

“Hòn đá cheo leo
Con trâu trèo con trâu trượt
Con ngựa trèo con ngựa đổ
Anh thương em lao khổ
Tận cổ chí kim
Anh thương em khó kiếm, khôn tìm
Cây kim luồn qua sợi chỉ
Sự bất đắc dĩ phu phải lìa thê
Nên hay không nên, anh ở em về
Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương”

Đó là nhịp điệu của con đường tình duyên đi qua nhiều ngoắt ngoéo, vấp váp. Nhìn chung ca dao ở Trung Bộ và Nam Bộ có nhiều bài nhịp điệu khấp khểnh ít êm xuôi như ca dao Bắc Bộ.

Với ca dao, chúng ta còn có thể nêu lên nhiều cái độc đáo khác nữa của thể loại này như: cách xưng hô, đối đáp, hình tượng, không gian, thời gian, tính ước lệ… cùng với tục ngữ, ca dao được quần chúng nhân dân sáng tạo qua nhiều thế hệ tác giả, qua nhiều thời đại đã có được vẻ đẹp nhiều mặt bền vững như ngày nay.

Mỗi câu tục ngữ, mỗi câu ca dao ra đời trong môi trường, hoàn cảnh nhất định và bao giờ cũng gắn liền với giới tự nhiên: cây cỏ, loài vật, dòng sông, con đò, bến nước, đường làng… cho nên nghiên cứu tục ngữ, ca dao cũng như nghiên cứu văn học dân gian nói chung, tốt nhất, lý tưởng nhất là trở về với dạng nguyên hợp của nó. Ở đây đã gọt bớt, đã gọn nhẹ đi nhiều. Thế nhưng đối với người đọc chúng ta nhất là đối với các nhà thơ đến với tục ngữ, ca dao sẽ khám phá, học tập được rất nhiều ở cái kho báu đa dạng này. Có nhiều bài thơ hay là những tác phẩm mà các tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo ngôn ngữ và các phương pháp nghệ thuật của tục ngữ, ca dao.

Tuy gọi là Tục ngữ và ca dao Việt Nam nhưng tuyển tập này chỉ mới giới thiệu tục ngữ và ca dao của người kinh – là một dân tộc đông người nhất ở nước ta. Việc biên soạn thơ ca, dân gian của các dân tộc anh em ít người thì thuộc về một công trình nghiên cứu khác.

Tuyển tập này chỉ gồm tục ngữ, ca dao tức là những thể loại trong đó cùng với việc tìm hiểu về mặt ngôn ngữ văn học dân gian.

Tục ngữ và ca dao lưu hành qua các địa phương khác nhau đã từng có những sự biến đổi ở mặt này hay mặt khác nhưng chúng tôi chỉ chọn lọc những tác phẩm phổ biến nhất, có hình thức nghệ thuật và ngôn ngữ ổn định để giới thiệu.
Tuyển tập này chắc chắn là không thể nào tránh khỏi những thiếu sót. Do đó rất mong được các bạn đọc góp ý để chúng tôi rút kinh nghiệm, sửa chữa.

MÃ GIANG LÂN

Phần thứ nhất: TỤC NGỮ

I – QUAN NIỆM VỀ GIỚI TỰ NHIÊN

1. Gió thổi là chổi trời.
2. Nước chảy đá mòn.
3. Trăm rác lấy nác làm sạch.
4. Rắn già rắn lột, người già người chột.
5. Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng.
6. Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng.
7. Ngày tháng mười chưa cười đã tối
8. Đông chết se, hè chết lụt.
9. Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm
10. Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân.
11. Tháng ba bà già chết rét.
12. Tháng bảy mưa gãy cành tràm.
13. Tháng tám nắng rám trái bưởi.
14. Tháng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu vào.
15. Sáng mưa, trưa tạnh.
16. Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.
17. Sáng bể chớ mừng, tối rừng chớ lo.
18. Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa.
19. Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật.
20. Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa.
21. Gió bấc hiu hiu sếu kêu thì rét.
22. Chớp đông nháy nháy, gà gáy thì mưa.
23. Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
24. Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
25. Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa.
26. Tháng bảy kiến đàn, đại ngàn hồng thủy.
27. Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
28. Én bay thấp mưa ngập cầu ao.
29. Én bay cao mưa rào lại tạnh.
30. Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.
1. Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước
2. Nắng chóng trưa, mưa chóng tối.
3. Mưa tháng ba hoa đất.
4. Mưa tháng tư hư đất.
5. Tấc đất, tấc vàng.
6. Năm trước được cau, năm sau được lúa.
7. Được mùa lúa, úa mùa cau
Được mùa cau, đau mùa lúa
8. Được mùa quéo, héo mùa chiêm.
9. Tỏ trăng mười bốn được tằm.
Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm.
10. Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu.
1. Thiếu tháng hai mất cà, thiếu tháng ba mất đỗ.
2. Thiếu tháng tám mất hoa ngư.
Thiếu tháng tư mất hoa cốc.
3. Mồng tám tháng tám không mưa
Bỏ cả cầy bừa mà nhổ lúa đi.
4. Tháng chín mưa rươi, tháng mười mưa mạ.
5. Gió đông là chồng lúa chiêm
Gió bấc là duyên lúa mùa.
6. Chiêm xấp tới, mùa đợi nhau.
7. Lúa chiêm đứng nép đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
8. Đói thì ăn ráy, ăn khoai
Chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng.
9. Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa.
10. Mạ chiêm ba tháng không già
Mạ mùa tháng rưỡi ắt là không non.
1. Lúa mùa thì cấy cho sâu
Lúa chiêm thì gẩy cành dâu mới vừa.
2. Một lượt cỏ thêm giỏ thóc.
3. Nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống.
4. Hòn đất nỏ bằng giỏ phân.
5. Người đẹp về lụa, lúa tốt về phân.
6. Tốt quá hóa lốp.
7. Xanh nhà hơn già đồng.
8. Ruộng cao trồng mầu, ruộng sâu cấy chiêm.
9. Trồng khoai đất lạ, gieo mạ đất quen.
10. Bốc mả kiêng ngày trùng tang
Trồng khoai lang kiêng ngày gió bấc.
1. Chuối sau, cau trước.
2. Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa.
3. Nắng sớm thì đi trồng cà
Mưa sớm ở nhà phơi thóc.
4. Gió heo may mía bay lên ngọn.
5. Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ
Tua rua bằng mặt cất bát cơm chăm.
6. Ba tháng trông cây không bằng một ngày trông quả.
7. Chắc rễ bền cây.
8. Cây chạm lá, cá chạm vây.
9. Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu.
Nắng đan đó, mưa gió đan gầu.
10. Con trâu là đầu cơ nghiệp.
1. Một tiền gà, ba tiền thóc.
2. Chuồng gà hướng đông cái lông chẳng còn.
3. Làm ruộng ba năm không bằng chăm tằm một lứa.
4. Làm ruộng ăn cơm nằm, chăm tằm ăn cơm đứng.
5. Tằm đói một bữa bằng người đói nửa năm.
6. Một nong tằm là năm nong kén
Một nong kén là chín nén tơ.
7. Tháng ba dâu trốn, tháng bốn dâu về.
8. Ao sâu tốt cá
Nước cả cá to.
9. Tháng chín ăn rươi, tháng mười ăn ruốc.

II – ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT

1. Người sống về gạo, cá bạo về nước.
2. Có thực mới vực được đạo.
3. Mẻ không ăn cũng chết.
4. Một miếng khi đói bằng một gói khi no.
5. Ăn một miếng, tiếng một đời.
6. Ghen vợ ghen chồng không bằng ghen ăn.
7. Đói thì thèm thịt thèm xôi
Hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường.
8. Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà gại ổ.
9. Lợn giò, bò bắp.
10. Vịt già, gà tơ.
1. Chim ngói mùa thu, chim cu mùa hè.
2. Mùa hè cá sông, mùa đông cá bè.
3. Chim, thu, nụ, dé.
4. Một trăm đám cưới không bằng hàm dưới cá trê.
5. Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm.
6. Ếch tháng ba, gà tháng bảy.
7. Cơm và, cháo húp.
8. Ăn cơn có canh, tu hành có vãi.
9. Vụng sá vụng sịt lắm thịt cũng ngon.
10. Cần tái, cải nhừ.
1. Tốt mốc ngon tương.
2. Mua cá thì phải xem mang
Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai.
3. Rượu cổ be, chè đầy ấm.
4. Trẻ muối cà, già muối dưa.
5. Sợ người ở phải, hãi người cho ăn.
6. Chó treo, mèo đậy.
7. Ăn tùy nơi, chơi tùy chỗ.
8. Có an cư mới lạc nghiệp.
9. Hay ở, dở đi.
10. Ăn hết nhiều, ở hết bao nhiêu.
1. Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở.
2. Vợ hiền hòa, nhà hướng nam.
3. Làm ruộng thì ra, làm nhà thì tốn.
4. Đất lành chim đậu.
5. Ăn lấy chắc, mặc lấy bền.
6. Tiền lĩnh quần chị, tiền chỉ quần em.
7. Cau già khéo bổ thì ngon
Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa.
8. Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.
9. Đường ở cửa miệng.
10. Mưa tránh chỗ trắng, nắng tránh chỗ đen.
1. Có khó mới có miếng ăn.
Không dưng ai dễ mang phần đến cho.
2. Hay ăn thì lăn vào bếp
3. Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.
4. Có bụng ăn, có bụng lo.
5. Của như kho không lo cũng hết.
6. Miệng ăn núi lở.
7. Khen nết hay làm, ai khen nết hay ăn.
8. Của làm ăn no, của cho ăn thèm.
9. Khỏi nhà ra thất nghiệp.
10. Tháng tám đói qua, tháng ba đói chết.
1. No ba ngày tết, đói ba tháng hè.
2. Đói ăn vụng, túng làm liều.
3. Sống cậy nhà, già cậy mồ.
4. Sống thì chẳng cho ăn nào
Chết thì cúng giỗ mâm cao cỗ đầy.
5. Sống dầu đèn, chết kèn trống.
6. Thâm đông thì mưa, thâm dưa thì khú, thâm vú thì chửa.
7. Gái dở thèm của chua.
8. Một con so bằng mười con dạ.
9. Sinh được một con, mất một hòn máu.
10. Trâu đẻ tháng sáu, vợ đẻ tháng mười.
1. Người chửa cửa mả.
2. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.
3. Chẳng ốm chẳng đau, làm giầu mấy chốc.
4.Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng.
5. Có thờ có thiêng, có kiêng có lành.
6. Bát nước giải bằng vại thuốc.
7. Thuốc đắng giã tật.

III – ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1. Nòi nào giống ấy.
2. Cây có cội, nước có nguồn.
3. Giấy rách giữ lề.
4. Cha già con cọc.
5. Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh.
6. Giỏ nhà ai, quai nhà ấy.
7. Khôn từ trong trứng khôn ra.
8. Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
9. Máu chảy ruột mềm.
10. Khác máu tanh lòng.
1. Một người làm quan cả họ được nhờ.
2. Chim có tổ, người có tông.
3. Chú như cha, già như mẹ *
4. Sảy cha còn chú, sảy mẹ ấp vú dì
5. Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.
6. Cháu bà nội, tội bà ngoại.
7. Nó lú có chú nó khôn.
8. Đắng cay cũng thể ruột rà,
Ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng.
9. Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò,
Chín tháng lò dò chạy đi.
10. Trẻ lên ba cả nhà học nói.

* Già: chị ruột của mẹ.
1. Tre già măng mọc.
2. Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già.
3. Trẻ trồng na, già trồng chuối.
4. Trẻ cậy cha, già cậy con.
5. Trẻ vui nhà, già vui chùa.
6. Xem trong bếp biết nết đàn bà.
7. Đàn ông cười hoa, đàn bà cười nụ.
8. Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp.
9. Đàn bà không biết nuôi heo – đàn bà nhác,
Đàn ông không biết buộc lạt – đàn ông hư.
10. Ruộng sâu, trâu nái không bằng con gái đầu lòng.
1. Con gái mười bảy, bẻ gãy sừng trâu.
2. Con gái là cái bòn.
3. Gái không chồng như thuyền không lái.
4. Chim khôn lựa nhánh lựa cành
Gái khôn lựa chốn trai lành gửi thân.
5. Thuyền theo lái, gái theo chồng.
6. Nứa trôi sông chẳng giập thì gẫy
7. Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ thì tật kia.
8. Trai thời loạn, gái thời bình.
9. Gái chưa chồng hay đi chợ
Trai chưa vợ hay đứng đường.
10. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.
1. Gái tham tài, trai tham sắc.
2. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên.
3. Già kén kẹn hom.
4. Ngày lắm mối, tối nằm không.
5. Canh suông khéo nấu thì ngon
Mẹ già khéo nói thì con đắt chồng.
6. Ai vác dùi đục đi hỏi vợ.
7. Lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống.
8. Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng.
9. Lấy chồng khó giữa làng, hơn lấy chồng sang thiên hạ.
10. Nhường cơm nhường áo không ai nhường chồng.
1. Vợ chồng đầu gối, tay ấp.
2. Gái một con trông mòn con mắt
Gái hai con vú quặt sau lưng
Gái ba con chỉ đâu ngồi đấy.
3. Lệnh ông không bằng cồng bà.
4. Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn.
5. Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa.
6. Gái có công chồng chẳng phụ.
7. Giầu về bạn, sang về vợ.
8. Bé thì nhờ mẹ, nhờ cha,
Lớn lên nhờ vợ, về già nhờ con.
9. Gái có chồng như gông đeo cổ
Gái không chồng như phản gỗ long đanh.
10. Trai có vợ như rợ buộc chân.
1. Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng.
2. Gái ngoan làm quan cho chồng.
3. Chiều người lấy việc, chiều chồng lấy con.
4. Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai.
5. Củi mục khó đun,
Chồng lành dễ khiến, chồng khôn khó chiều.
6. Thế gian được vợ hỏng chồng
Mấy khi lại được cả ông lẫn bà.
7. Bát còn có lúc xô xát huống chi vợ chồng.
8. Trai nhớ vợ cũ, gái nhớ chồng xưa.
9. Chết trẻ còn hơn lấy lẽ chồng người.
10. Con có cha như nhà có nóc.
1. Con hơn cha là nhà có phúc.
2. Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.
3. Cha muốn con hay, thày muốn trò khá.
4. Mẹ già như chuối chín cây.
5. Của không ngon nhà nhiều con cũng hết.
6. Giầu con út khó con út.
7. Nhất mẹ, nhì cha, thứ ba bà ngoại.
8. Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con.
9. Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.
10. Con chẳng chê cha mẹ khó
Chó chẳng chê chủ nhà nghèo.
1. Cha mẹ sinh con trời sinh tính
2. Con cái khôn ngoan vẻ vang cha mẹ
3. Có phúc đẻ con hay lội, có tội đẻ con hay trèo.
4. Chị ngã em nâng.
5. Cắt dây bầu dây bí, ai nỡ cắt dây chị, dây em.
6. Anh em hạt máu sẻ đôi.
7. Anh em như chân tay
8. Anh em khinh trước, làng nước khinh sau.
9. Dâu là con, rể là khách.
10. Kén dâu thì dễ, kén rể thì khó.
1. Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.
2. Chị em dâu như bầu nước lã.
3. Áo năng may năng mới, người năng nói năng thân.
4. Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
5. Lời chào cao hơn mâm cỗ.
6. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.
7. Thua thầy một vạn không bằng thua bạn một ly.
8. Tin bợm mất bò, tin bạn mất vợ nằm co một mình.
9. Bán anh em xa mua láng giềng gần.
10. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
1. Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn.
2. Dễ người dễ ta.
3. Sẩy đàn tan nghé.
4. Con sâu bỏ rầu nồi canh.
5. Cả vốn lớn lãi.
6. Bán hàng nói thách, làm khách trả rẻ.
7. Quen mặt đắt hàng.
8. Tiền trao cháo múc.
9. Chớ bán gà ngày gió, chớ bán chó ngày mưa.
10. Nhà gần chợ để nợ cho con.
1. Tiền không chân xa gần đi khắp.
2. Đồng tiền liền khúc ruột.
3. Của thiên trả địa.
4. Của thế gian đãi người thiên hạ.
5. Của một đồng, công một nén.
6. Có tiền mua tiên cũng được.
7. Người làm nên của, của không làm nên người.
8. Người sống đống vàng.
9. Thế gian chuộng của, chuộng công
Nào ai có chuộng người không bao giờ.
10. Nhiều tiền thì thắm, ít tiền thì phai.
1. Tiền bạc đi trước mực thước đi sau.
2. Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
3. Của bụt mất một đền mười.
4. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, đồng tiền đi sau là đồng tiền dại.
5. Mạnh về gạo bạo về tiền.
6. Của bền tại người.
7. Nhất tội, nhì nợ.
8. Công nợ trả dần, cháo nóng húp quanh.
9. Làm nghề gì ăn nghề ấy.
10. Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay.
1. Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.
2. Bầu dục chẳng đến bàn thứ tám, cám nhỏ chẳng đến miệng lợn sề.
3. Thằng mõ có bỏ đám nào.
4. Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.
5. Làm hàng săng, chết bó chiếu.
6. Dò sông, dò bể, dò nguồn
Biết sao được bụng lái buôn mà dò.
7. Đi buôn nói ngay bằng đi cày nói dối.
8. Bà chúa đứt tay bằng ăn mày sổ ruột.
9. Muốn nói oan làm quan mà nói.
10. Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ.
1. Lễ vào quan như than vào lò.
2. Quan thời xa, bản nha thời gần.
3. Tuần hà là cha kẻ cướp.
4. Hay làm thì đói, hay nói thì no.
5. Cốc mò cò xơi.
6. Cá lớn nuốt cá bé.
7. Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.
8. Tức nước vỡ bờ.
9. Con giun xéo lắm cũng quằn.
10. Được làm vua, thua làm giặc.
1. Nhà dột từ nóc dột xuống
2. Mèo tha miếng thịt xôn xao
Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi.
3. Miệng quan trôn trẻ.
4. Thứ nhất sợ kẻ anh hùng
Thứ nhì sợ kẻ bần cùng cố thây.
5. Quan nhất thời, dân vạn đại.
6. Quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy.
7. Có chí làm quan, có gan làm giầu.
8. Phú quý sinh lễ nghĩa.
9. Miệng nhà giầu nói đâu ra đấy.
10. Chung nhau thì giầu, chia nhau thì khó.
1. Giầu ăn ba bữa, khó cũng đỏ lửa ba lần.
2. Sông có khúc, người có lúc.
3. Ăn cơm với cáy thì ngáy o o, ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy.
4. Có hay không mùa đông mới biết.
Giầu hay nghèo ba mươi tết mới hay.
5. Nước chảy chỗ trũng.
6. Nghèo hèn giữa chợ ai chơi
Giầu trong hang núi nhiều người hỏi thăm.
7. Giầu bán ló, khó bán con. *
8. Cái khó bó cái khôn.
9. Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.
10. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh.

* ló: lúa.
1. Giầu nhà quê không bằng kéo lê kẻ chợ
2. Đất có lề, quê có thói.
3. Phép vua thua lệ làng.
4. Tết đến sau lưng
Ông vải thì mừng, con cháu thì lo.
5. Một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc trần.
6. Có bệnh thì vái tứ phương
Không bệnh đồng lương không mất.
7. Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm.
8. Thầy bói nói dựa.
9. Đất có thổ công, sông có Hà Bá.

IV. ĐỜI SỐNG TINH THẦN – NHỮNG QUAN NIỆM VỀ NHÂN SINH

1. Người là hoa đất.
2. Người ba đấng, của ba loài.
3. Trông mặt mà bắt hình dung.
4. Người khôn dồn ra mặt.
5. Lớn vú bụ con
6. Cái răng, cái tóc là góc con người.
7. Con mắt là mặt đồng cân.
8. Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nửa chì nửa thau.
9. Rộng miệng cả tiếng.
10. Môi dầy ăn vụng đã xong
Môi mỏng hay hớt, môi cong hay hờn.
1. Tẩm ngẩm mà đấm chết voi
2. Sống lâu biết nhiều sự lạ.
3. Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
4. Điếc không sợ súng.
5. Biết sự đời, mười đời chẳng khó.
6. Trăm nghe không bằng một thấy.
7. Trăm hay không bằng tay quen.
8. Quen tay hay làm.
9. Có dốt mới có khôn.
10. Thua keo này, bày keo khác.
1. Ở trong chăn mới biết chăn có rận.
2. Thức khuya mới biết đêm dài
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
3. Lửa thử vàng, gian nan thử sức.
4. Vàng thật không sợ lửa.
5. Lời nói không cánh mà bay.
6. Rượu vào, lời ra.
7. Ăn có nhai, nói có nghĩ.
8. Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.
9. Nói hay hơn hay nói.
10. Chim khôn chưa bắt đã bay
Người khôn ít nói, ít hay trả lời.
1. Cả giận mất khôn.
2. Hơi đâu mà giận người dưng.
3. Một đời kiện, chín đời thù.
4. Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.
5. Cây ngay chẳng sợ chết đứng.
6. Có tật giật mình, có tình kinh trong bụng.
7. Thẳng mực tầu, đau lòng gỗ.
8. Mất lòng trước, được lòng sau.
9. Mật ngọt chết ruồi,
Những nơi cay đắng là nơi thật thà.
10. Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy.
1. Ăn cây nào rào cây ấy.
2. Thân trâu trâu lo, thân bò bò liệu.
3. Cha chung không ai khóc.
4. Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại.
5. Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng.
6. Có vay có trả, mới thỏa lòng nhau.
7. Cá mè một lưa.
8. Tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh.
9. Làm quan ăn lộc vua, ở chùa ăn lộc phật.
10. Ngày dưng thì chẳng chắp gai,
Đến khi có cá mượn chài ai cho.
1. Người lười, đất không lười.
2. Mồn miệng đỡ chân tay.
3. Giã gạo thì ốm, giã cốm thì khỏe.
4. Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm.
5. Đo bò làm chuồng.
6. Yếu chân chạy trước.
7. Làm khi lành để dành khi đau.
8. Mất bò mới lo làm chuồng.
9. Có mình thì phải giữ.
10. Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè, hà tiện.
1. Đãi cứt sáo lấy hạt đa, đãi cứt gà lấy hạt tấm.
2. Kiếm củi ba năm thiêu một giờ.
3. Đời cha vo tròn, đời con bóp bẹp.
4. Sông lở cát bồi.
5. Được lòng ta xót xa lòng người.
6. Bói rẻ còn hơn ngồi không.
7. Chẳng được con trắm, con chép cũng được mớ tép, mớ tôm.
8. Thả con săn sắt, bắt con cá rô.
9. Lọt sàng xuống nia.
10. Lá rụng về cội
1. Cơm không ăn, gạo còn đó.
2. Gạo đổ hót chẳng đầy thưng.
3. Mất cả chì lẫn chài.
4. Được một bữa cơm người, mất mười bữa cơm nhà.
5. Đã khó, chó cắn thêm.
6. Biết tội đâu mà tránh, biết phúc đâu mà tìm.
7. Buồn ngủ lại gặp chiếu manh,
Hay ăn làm biếng gặp anh đứng đường.
8. Đi đêm lắm có ngày gặp ma.
9. Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới.
10. Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa.
1. Chạy trời không khỏi nắng.
2. Thuốc chữa bệnh, chẳng chữa được mệnh.
3. Khi nên, trời cũng chiều người.
4. Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn.
5. Ai uốn câu cho vừa miệng cá.
6. Thánh cũng có khi nhầm.
7. Bới bèo ra bọ.
8. Đánh rắn phải đánh dập đầu.
9. Đã tu thời tu cho trót.
10. Có chí thì nên.
1. Mưu cao chẳng bằng chí dày.
2. Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
3. Có công mài sắt có ngày nên kim.
4. Năng nhặt chặt bị.
5. Trăm bó đuốc cũng vớ được con ếch.
6. Còn nước, còn tát.
7. Thắng không kiêu, bại không nản.
8. Sóng cả chớ ngã tay chèo.
9. Vua thua thằng liều.
10. Con mẹ đẻ con con.
1. Còn gà trống, gà mái thì còn gà dò.
2. Trời không đóng cửa ai.
3. Ai giầu ba họ, ai khó ba đời.
4. Cờ đến tay ai người ấy phất.
5. Bút sa, gà chết.
6. Xay lúa thì thôi ẵm em.
7. Lắm sãi không ai đóng cửa chùa.
8. Bụng làm dạ chịu.
9. Có gan ăn cắp, có gan chịu đòn.
10. Chó gầy hổ mặt người nuôi.
1. Rau nào sâu ấy.
2. Gần lửa rát mặt.
3. Cháy thành vạ lây.
4. Gần nhà giầu đau răng ăn cốm. gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn.
5. Lụt thì lút cả làng.
6. Được mùa thày chùa no bụng.
7. Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết.
8. Rút dây động rừng.
9. Môi hở răng lạnh.
10. Đánh chó ngó chủ nhà.
1. Yêu con chị vị con em.
2. Cách sông nên phải lụy đò.
3. Há miệng mắc quai.
4. Muốn tròn phải có khuôn, muốn vuông phải có thước.
5. Đầu xuôi đuôi lọt.
6. Vạn sự khởi đầu nan.
7. Cũ người mới ta.
8. Trước lạ sau quen.
9. Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt.
10. ăn vặt quen mồm.
1. Ngựa quen đường cũ.
2. Người làm sao, chiêm bao làm vậy.
3. Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng.
4. Tích tiểu thành đại.
5. Góp gió thành bão, góp cây nên rừng.
6. Ba người đánh một, không chột cũng què.
7. Vét nồi ba mươi cũng đầy niêu mốt.
8. Xấu đều hơn tốt lỏi.
9. Không có lửa sao có khói.
10. Sanh không thủng cá đi đằng nào.
1. Có bột mới gột nên hồ.
2. Ôm rơm rặm bụng.
3. Chơi dao sắc có ngày đứt tay.

phần thứ hai: CA DAO

A. CA DAO THỜI KỲ PHONG KIẾN

I. LAO ĐỘNG VÀ CÁC NGHỀ NGHIỆP.

Lậy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp.
Lậy ông nắng lên
Cho trẻ con chơi
Cho già bắt rận
Cho tôi đi cày.

Tay cầm con dao
Làm sao cho sắc
Để mà dễ cắt
Để mà dễ chặt
Chặt lấy củi cành
Trèo lên rừng xanh
Chạy quanh sườn núi
Một mình thui thủi
Chặt cây chặt củi
Tìm chốn ta ngồi
Ta ngồi gió mát thảnh thơi…

Kìa một đàn chim
Ở đâu bay đến?
Ở đâu bay lại?
Con đang cắn trái,
Con đang tha mồi.
Qua lối nọ nó ăn…
Cái con hươu kia
Mày đang ăn lộc,
Lộc vả, lộc sung
Mày thấy không tớ?
Tớ không đuổi mày
Mày qua lối nọ làm chi?

1. Tháng chạp là tháng trồng khoai
Tháng giêng trồng đâu, tháng hai trồng cà.
2. Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
3. Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm
4. Sớm ngày đem lúa ra ngâm
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra
5. Gánh đi ta ném ruộng ta
Đến khi nêm mạ thì ta nhổ về
6. Sắp tiền mượn kẻ cấy thuê
Cấy xong thì mới trở về nghỉ ngơi

1. Cỏ lúa đã dọn sạch rồi
Nước ruộng vơi mười còn độ một hai
2. Ruộng thấp đóng một gầu dai
Ruộng cao thì phải đóng hai gầu sòng
3. Chờ cho lúa có đòng đòng
Bấy giờ ta sẽ trả công cho người
4. Bao giờ cho đến tháng mười
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta
5. Gặt hái ta đem về nhà
Phơi khô, quạt sạch ấy là xong công.
1. Một năm chia mười hai kỳ
Thiếp ngồi thiếp tính khó gì chẳng ra:
2. Tháng giêng ăn tết ở nhà
Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm
3. Tháng ba đi bán vải thâm
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về
4. Tháng sáu em đi buôn bè
Tháng bảy, tháng tám trở về đong ngô.
5. chín, mười cắt rạ đồng mùa
Một, chạp vớ được anh đồ dài lưng
6. Anh ăn rồi anh lại nằm
Làm cho thiếp phải quanh năm lo phiền.
7. Chẳng thà mấy chú lực điền
gạo bồ, thóc đống còn phiền nỗi chi?
1. Khéo thay công việc nhà quê
Quanh năm khó nhọc dám hề khoan thai.
2. Tháng chạp thời mắc trồng khoai
Tháng giêng trồng đâu, tháng hai trồng cà
3. Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư bắc mạ thuận hòa mọi nơi
4. Tháng năm gặt hái vừa rồi,
Bước sang tháng sáu nước trôi đầy đồng
5. Nhà nhà, vợ vợ, chồng chồng
Đi làm ngoài đồng sá kể cơm trưa
6. Tháng sáu tháng bảy đang vừa
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh.
1. Tháng tám lúa trỗ đã đành
Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người.
2. Khó khăn làm mấy tháng trời
Lại còn mưa nắng bất thời chờ trông.
3. Cắt rồi nộp thuế nhà công
Từ rày mới được yên lòng ấm no.
1. Cuối thu trồng cải, trồng cần
Ăn đong sáu tháng, cuối xuân thì tàn
2. Bấy giờ rau muống đã lan
Lại ăn cho đến thu tàn thì thôi.
3. Mùa nào thức ấy lần hồi
Lọ là phải chuốc của người đâu xa.

1. Quanh năm cấy hái, cầy bừa
Vụ chiêm thì hạ, vụ mùa thì đông
2. Ai về nhắn chị em cùng
Muốn cho sung sướng nghề nông phải cần
3. Dưa gang một, chạp thì trồng
Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo
4. Tháng hai đi tậu trâu bò
Cày đất cho ải, mạ mùa ta gieo.
1. Tháng sáu mà cấy mạ già
Thà rằng công ấy ở nhà ẵm con
2. Tháng chạp mà cấy mạ non
Thà rằng công ấy ẵm con ở nhà.

1. Nửa đêm trăng sáng mây cao
Triệu trời nắng gắt, nắng gào chẳng sai
2. Lúa khô nước cạn ai ơi!
Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu.
1. Trên trời có ông sao Thần (1)
Bốn mùa chỉ lối cho dân ăn làm.
2. Sang xuân Thần cúi lom khom
Là mùa trồng đậu, dân làng biết chăng?
3. Bước sang tháng chín rõ trăng
Lưng thần hơi đứng là đang gặt mùa.
4. Tua rua đi rắc mạ mùa (2)
Tiểu thử đi bừa, cầy ruộng rất sâu (3)
5. Hàn lộ lúa trổ bằng đầu (4)
Lập đông ta quyết về mau gặt mùa. (5)

(1). Sao Thần: chòm sao Thần nông.
(2). Tua rua: chòm sao nhỏ có 7 ngôi liền nhau. Khi tua rua mọc gọi là tiết mang hiện hoặc mang chủng. Tua rua mọc vào đầu tháng sáu dương lịch.
(3). Tiểu thử: đầu tháng 7.
(4). Hàn lộ: đầu tháng 10.
(5). Lập đông: đầu tháng 11.
1. Tua rua một tháng mười ngày
Cấy trốc luống cầy cũng được lúa xơi
2. Ra đường thấy vỏ thị rơi
Tua rua quặt lại thì thôi cấy mùa.
3. Tua rua thì mặc tua rua
Mạ già, ruộng ngấu không thua bạn điền.

1. Đói thì ăn ráy, ăn khoai
chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng (1)

(1). Lúa trỗ sớm sẽ gặp hạn, gặp rét.
1. Bao giờ mang hiện đến ngày
Cầy bừa cho chín, mạ này đem gieo

1. Gỗ kiền anh để đóng cầy
Gỗ lim, gỗ sến anh nay đóng bừa
2. Răng bừa tám cái còn thưa
Lưỡi cầy tám tấc đã vừa luống to
3. Muốn cho lúa mẩy, bông to
Cầy sâu, bừa kỹ, phân gio cho nhiều.

1. Rủ nhau đi cấy đi cầy
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.
2. Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa.
1. Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
2. Ai ơi! bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!

1. Rạng ngày vác cuốc ra đồng
Tay cầm mồi lửa, tay dòng thừng trâu.
2. Ruộng đầm nước cả, bùn sâu
Suốt ngày cùng với con trâu đi cày.

1. Việc làm chẳng quản nắng mưa
Cơm ăn đắp đổi, muối dưa qua ngày!
2. Ai ơi bưng bát cơm đầy
Biết công kẻ cấy, người cày mấy nao!
1. Văn chương phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong!
2. Sớm ngày vác cuốc thăm đồng
Hết nước thì lấy gầu sòng tát lên
3. Hết mạ ta lại quẩy thêm,
Hết lúa ta lại mang tiền đi đong.
4. Nữa mai lúa chín đầy đồng
Gặt về, đập, sẩy, bõ công cấy cày.

1. Ơn trời mưa nắng phải thì
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.
2. Công lênh chẳng quản bao lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng
Ai ơi! chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.
1. Mặt trời tang tảng rạng đông
Chàng ơi, trở dậy ra đồng kẻo trưa!
2. Phận hèn bao quản nắng mưa
Cày sâu, bừa kỹ, được mùa có phen.

1. Nhờ trời mưa gió thuận hòa
Nào cày, nào cấy, trẻ gìa đua nhau
2. Chim: gà, cá: nhệnh, cảnh: cau,
Mùa nào thức ấy giữ mầu quê hương.

1. Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
2. Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm mai.
1. Trâu ơi, ta bảo trâu này!
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
2. Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
3. Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

1. Nghé ơi, ta bảo nghé này,
nghé ăn cho béo, nghé cày cho sâu
2. Ở đời khôn khéo chi đâu
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

1. Cha chài, mẹ lưới, con câu
Con trai tát nước, nàng dâu đi mò.
1. Nom ra ngoài bể mù mờ
Thấy anh câu đục, câu dù mà thương.

1. Nàng đứng ở đó mà chi
Nàng về kẻ bể mà đi kéo rùng
2. Nhà tôi nghề giã, nghề sông
Lặng thì tôm cá đầy trong, đầy ngoài.
3. Cá trắng cho chí cá khoai
Còn như cá lẹp, cá mai cũng nhiều.
4. Quý hồ nàng có lòng yêu
Cái đường đi lại còn nhiều khi ta.
5. Nàng về thưa với ông, bà
Có cho nàng lấy chồng xa hay đừng?
1. Con ơi nhớ lấy lời cha
Mồng năm tháng chín thật là bão rươi.
2. Bao giờ cho đến tháng mười
Thì con vào lộng ra khơi mặc lòng.

1. Những người đi biển làm nghề
Thấy dòng nước nóng thì về đừng đi
2. Sóng lừng, bụng biển ầm ì
Bão mưa ta tránh chớ hề ra khơi.

1. Lênh đênh chiếc giã giữa vời
Chiếc thuyền mành vô cửa biết mấy đời gặp nhau.
1. Nước chảy xuôi, thuyền anh trôi ngược
Anh chống không được, anh bỏ sào xuôi
2. Sào xuôi thuyền cũng trôi xuôi
Khúc sông bỏ vắng để người sầu riêng
3. Người sầu riêng cơm trắng không ăn
Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm.

1. Câu cá cá chẳng ăn mồi
Đừng câu mà mệt, đừng ngồi mà trưa.
2. Cần câu bạc, cột chạc dây tơ
Sáng trăng không nhởi, trăng mờ không câu.
3. Sông sâu mà biển cũng sâu
Muốn ăn cá lớn dong câu cho dài.
1. Anh đây lên thác, xuống ghềnh
Thuyền nan đã trải, thuyền mành thử chơi
2. đi cho khắp bốn phương trời
Cho trần biết mặt, cho đời biết tên.

1. Muốn ăn măng trúc, măng giang
Măng tre, măng nứa, cơm lam thì chèo (1)
2. Ngược xuôi lên thác, xuống đèo
Chim kêu bên nọ, vượn trèo bên kia.

1. Tiếc công lên thác, xuống ghềnh.
Tay chèo, tay chống, một mình nhờ ai?
2. Bây giờ thở vắn than dài
Ngỡ rằng hò hẹn ai hay hẹn hò.

(1). Cơm lam: cơm nấu bằng cách đổ gạo và nước vào ống nứa tươi, nút kỹ bằng lá rồi chất lên lửa đốt.
1. Giỏi giang chớ vội khoe tài
Sông sâu sào vắn (ngắn), bể trời mênh mông
2. Nước to, sóng cả khôn chừng
Đã vào gian hiểm xin đừng non tay.

1. Tằm chăn ba lứa thuận hòa
Tiền dư, thóc tích giữa nhà cao sang.

1. Con tằm nó ăn lá dâu
Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò.

1. Nuôi tằm cần phải có dâu
Muốn cho dâu tốt phải mau vun trồng
2. Vườn thì cuốc rãnh thong dong
Cách nhau hai thước đặt hông cho dày
3. Giống dâu ưa nước xưa nay
Những khi ngập hết thì cây cũng già.
1. Trời mưa lác đác ruộng dâu
Cái nón đội đầu, cái thúng cắp tay
2. Bước chân xuống hái dâu này
Nuôi tằm cho lớn mong ngày ươm tơ
3. Thương em chút phận ngây thơ
Lầm than đã trải, nắng mưa đã từng
4. Xa xôi ai có tỏ chừng
Gian nan, tân khổ ta đừng quên nhau.

1. Hôm qua dệt cửi thoi vàng
Sực nhớ đến chàng, cửi lại dừng thoi
2. Cửi rầu, cửi tủi chàng ơi
Ngọn đèn sáng tỏ bóng người đằng xa…
1. Em về dệt cửi trên khung
Để anh đọc sách cùng chung một đèn
2. Vải em em bán lấy tiền
Em mua lụa liền may áo cho anh
3. Trong thì lót tím, lót xanh
Ngoài thêu đôi bướm lượn cành phù dung.

1. Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi canh cửi còn anh vá chài.
2. Nhất thương là cái hoa lài
Nhì thương ai đó áo dài ấm thẩn.
3. Gặp người sao có một lần
Để em thương nhớ tần ngần suốt năm.
1. Anh làm thợ mộc Thanh Hoa
Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay:
2. Lựa cột anh dựng đòn tay
Bào trơn, đóng bén nó ngay một bề.
3. Bốn cửa anh chạm bốn dê
– Bốn con dê đực chầu về tổ tông.
4. Bốn cửa anh chạm bốn rồng,
Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo
5. Bốn cửa anh chạm bốn mèo
Con thì bắt chuột, con leo xà nhà.
6. Bốn cửa anh chạm bốn gà
Đêm thì nó gáy nhà ra làm vườn.
1. Bốn cửa anh chạm bốn lươn
Con thì thắt khúc, con trườn ra xa
2. Bốn cửa anh chạm bốn hoa
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.
3. Bốn cửa anh chạm bốn đèn
Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ,
4. Một đèn đọc sách, ngâm thơ
Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.

1. Quê anh ngày tám tháng ba
Quay vào làm rọ, quay ra đan lờ
2. Nhờ trời mưa thuận, gió hòa
Lờ, rọ bán được, cảnh nhà thêm vui.
1. Một mình vừa chẻ, vừa đan
Lỗi lầm thì chịu, phàn nàn cùng ai

1. Mài dừa đạp cám cho nhanh
Ép dầu mà chải tóc anh, tóc nàng
2. Mài dừa dưới ánh trăng vàng,
Ép dầu mà chải tóc nàng, tóc anh.

1. Lấy anh thì sướng hơn vua
Anh đi xúc giậm được cua kềnh càng
2. Đem về nấu nấu, rang rang
Chồng chan, vợ húp lại càng hơn vua.

1. Tháng tư cơm gói ra Hòn (1)
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang Mai.

(1). Hòn: tức là hòn Chông ở tỉnh Kiên Giang.
1. Tháng giêng là tháng ăn chơi
Anh ra nằm bãi (1) hòn Khơi một mình (2)

1. Tre già anh để pha nan
Lớn đan nong, né bé đan giần sàng
2. Gốc thì anh để kê giường
Ngọn ngành anh để cắm giàn trầu, dưa.

1. Võng này đan sợi đay già
Em đi kén võng đã ba năm chầy
2. Đôi ta chung mẹ, chung thầy
Đêm trăng chung võng vơi đầy thủy chung.

(1). Đi nằm bãi: ra chờ đợi ngoài bãi biển chờ đồi mồi bò lên để bắt.
(2). Hòn Khơi: ở Hà Tiên.
1. Vạn Vân có bến Thổ Hà (1)
Vạn Vân nấu rượu, Thổ Hà nung vôi
2. Nghĩ rằng đá nát thì thôi
Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.

1. Chăn đơn, gối chiếc lạnh lùng
Nửa mình thì đắp, nửa phòng tình nhân.

1. Em về dọn quán bán hàng
Để anh là khách đi đàng trú chân.

1. Trắng da là bởi phấn dồi
Da đen là bởi em ngồi chợ trưa.

1. Bán hàng thì bán sớm mai
Chợ trưa người vãn còn nài làm chi.
1. Tin nhau buôn bán cùng nhau
Thiệt hơn, hơn thiệt, trước sau như lời
2. Hay gì lừa đảo kiếm lời
Một nhà ăn uống, tội trời riêng mang.
3. Theo chi những thói gian tham
Pha phôi thực giả tìm đường dối nhau
4. Của phi nghĩa có giầu đâu
Ở cho ngay thật giầu sau mới bền.

1. Em ơi chớ lấy quân buôn
Khi vui nó ở, khi buồn nó đi
1. Nhỏ còn thơ dại biết chi
Lớn rồi đi học, học thì phải siêng
2. Theo đòi cũng thể bút nghiên
Thua em, kém chị cũng nên hổ mình.

1. Cả làng có một thầy đồ
Dạy học thì ít, bắt cua thì nhiều
2. Thương thầy trò cũng muốn theo
Trò sợ thầy nghèo bán cả trò đi.

1. Cha mẹ giầu con thong thả
Cha mẹ nghèo con vất vả, gian nan.
2. Sớm mai lên núi đốt than
Chiều về xuống biển, đào hang bắt còng.
1. Chợ Thốt Nốt có lập đài khán võ (1)
Chợ Cờ Đổ tuy nhỏ mà đông (2)
2. Thấy em buôn bán anh chẳng vừa lòng
Để anh làm mướn kiếm từng đồng nuôi em.

1. Anh về ngoài Huế thắt rế tai bèo
Gửi vô em bán đỡ nghèo nuôi anh

1. Người ta bán vạn buôn ngàn
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi.
2. Dám xin ai đó chớ cười
Vì em làm giấy cho người viết thơ.

(1), (2). Thốt Nốt, Cờ Đổ: thuộc tỉnh Hậu Giang.
1. Giã nay rồi lại giã mai
Đôi chân tê mỏi, dó ơi vì mày
2. Seo đêm rồi lại seo ngày
Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi.

1. Hỡi anh làm thợ nơi nao
Để em gánh đục, gánh bào đi theo.

1. Lấy chồng thợ mộc sướng sao
Mạt cưa rấm bếp, vỏ bào nấu cơm
2. Vỏ bào còn nỏ hơn rơm
Mạt cưa rấm bếp còn thơm hơn trầm.
1. Muốn ăn cơm trắng, cá thèn
Thì về Đa Bút đi rèn với anh (1)
2. Một ngày ba bữa cơm canh
Tối về quạt mát cho anh ngồi rèn.

1. Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng.

1. Hoài thân lấy chú thợ khay(2)
Cò cưa, ký quéc cả ngày cơm không.

1. Nhà em mả táng hàm rồng
Thì em mới lấy được chồng thợ khay

(1). Đa Bút: một thôn ở đông nam huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa
(2). Thợ khay: thợ khảm

II. LỊCH SỬ VÀ ĐẤT NƯỚC.

1. Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày giổ Tổ tháng ba mùng mười (1)
2. Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.

1. Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa.
2. Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài.
3. Lên ba đáng tuổi anh tài
Roi ngà, ngựa sắt ra oai trận tiền.
4. Một phen khói lửa dẹp yên,
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời. (2)

(1). Giỗ Tổ: Hùng Vương.
(2). Bài này nói về Thánh Gióng.
1. Ai về đến huyện Đông Đông Anh
Ghé thăm phong cảnh Loa thành Thục Vương.

1. Ru con con ngủ ngon lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
2. Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng (1)

1. Ai về Hậu Lộc, Phú Điền (2)
Nhớ đây Bà Triệu trận tiền xung phong.

(1). Tương truyền câu này ca ngợi Bà Triệu, lãnh tụ nghĩa quân chống nhà Ngô xâm lược vào năm 248.
Có nơi còn chép:
Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiến cho chồng trẩy quân.
(Trấu têm cánh kiến giống như trồng têm cánh phượng).
(2). Phú Điền: nay là xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay còn lăng và đền thờ Bà Triệu.
1. Sa Nam trên chợ dưới đò (1)
Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dụng binh

1. Bạch Đằng giang là sông cửa ải
Tổng Hà Nam là bãi chiến trường (2)

(1). Sa Nam: thị trấn huyện lỵ Nam Đàn. Năm 722 Mai Hắc Đế xây Vạn An Thành ở núi Vệ Sơn cùng nhân dân chống bọn xâm lược nhà Đường. Hiện nay ở Vệ Sơn còn đền thờ Mai Hắc Đế.

(2). Năm 1288 Trần Hưng Đạo diệt quân của Ô Mã Nhi ở sông Bạch Đằng (sông chảy giữa hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng)
1. Nhong nhong ngựa ông lại về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn. (1)

1. Lạy trời cho cả gió lên
Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành (2)

(1). Câu này nói lên nỗi vui mừng của nhân dân khi nghĩa quân của Lê Lợi tiến về đóng ở bến Bồ Đề (huyện Gia Lâm, Hà Nội), chuẩn bị tổng tấn công quân xâm lược nhà Minh giải phóng thành Đông Quan (nay là thủ đô Hà Nội)
(2). Ngày 2 tháng 1 năm Bính Tuất (1418) Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Minh và tự xưng là Bình Định Vương. Câu này nói lên ước vọng của nhân dân mong cho nghĩa quân của Lê Lợi mau giải phóng đất nước.
1. Ai lên Biên Thượng, Lam Sơn
Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh. (1)

1. Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Con bế, con dắt, con bồng, con mang. (2).

(1). Biên Thượng, Lam Sơn: thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
(2). Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông: Đời hai vua này nhân dân sống sung túc. Sinh con đẻ cái, sản xuất và chăn nuôi đều phát triển.
1. Đời vua Vĩnh Tộ lên ngôi (1)
Cơm trắng đầy nồi, trẻ chẳng ăn cho.

1. Tùng tùng đánh trống quân sang
Chợ Già trước mặt, quán Nam bên đàng
2. Qua Chiêng thì rẽ sang Giàng
Qua quán Đông Thổ vào làng Đình Hương
3. Anh đi theo chúa Tây Sơn
Em về cày cuốc mà thương mẹ già (2).

(1). Vĩnh Tộ: chỉ Lê Thần Tông.
(2). Chợ Già, quán Nam, Chiêng: thuộc huyện Hoằng Hóa. Giàng, Đông Thổ, Đình Hương: thuộc huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa.
1. Trên trời có ông sao Tua
Ba Làng, Trà Lũ có vua Ba Vành.(1)

1. Trên trời có ông sao Tua
Ở làng Nguyệt Giám có vua Ba Vành
2. Phương đông quật lũ hùng tinh
Làm cho bảy viện tan tành ra tro. (2)

(1). Ba Làng, Trà Lũ: tức Trà Trung, Trà Bắc. Trà Đoài thuộc huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định. Trà Lũ là nơi cố thủ của Phan Bá Vành (vua Ba Vành), khi bị quân triều đình đàn áp. Phan Bá Vành lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa nông dân lớn dưới triều vua Minh Mạng.

(2). Nguyệt Giám, Nguyệt Lâm: thuộc làng Minh Giám, huyện Kiên Xương, tỉnh Thái Bình, quê hương Phan Bá Vành. Sau Minh Mạng bắt đổi làng Minh Giám thành Nguyệt Giám. Nguyệt Lâm nay thuộc xã Vũ Bình, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình còn Nguyệt Giám thuộc xã Minh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
1. Có chàng Công Tráng họ Đinh
Dựng lũy Ba Đình chống đánh giặc Tây.
2. Cơ mưu, dũng lược ai tày
Chẳng quản đêm ngày vì nước lo toan
3. Dù cho vận nước chẳng còn,
Danh nghĩa vẹn toàn, muôn thủa không phai. (1)

1. Vườn ai trồng trúc, trồng tre
Ở giữa trồng chè, hai bên đào ao
2. Ấy nhà một đấng anh hào
Họ Phan làng Thái, đồng bào kính yêu.(2)

(1). Lũy Ba Đình: Một căn cứ chống Pháp của nghĩa quân Cần Vương Thanh Hóa dưới sự chỉ huy của: Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt. Ba Đình là ba làng: Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
(2). Họ Phan, làng Thái: Tức Phan Đình Phùng người làng Đông Thái nay là Đức phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
1. Sông Lam một dải nông sờ
Nhớ người quân tử bơ vơ nổi chìm. (1)

1. Nhớ ai nhớ mãi, nhớ hoài
Nhớ người tráng sĩ gươm mài dưới trăng (2)

(1). Người quân tử: chỉ cụ Phan Đình Phùng.
(2). Người tráng sĩ: chỉ Cao Thắng, một vị tướng của Phan Đình Phùng.
1. Kệ Sơn, Phượng Lĩnh đôi hàng
Đi về mấy độ ngang tàng vào ra
2. Ngàn Hống hỏi khách đi qua
Nào ai là kẻ xông pha đứng đầu. (1)

1. Đường đi chín xã sông con
Hỏi thăm ông Hưởng Hiệu hãy còn hay không? (2)
2. Ngó vô Linh Đồng mây mờ
Nhớ ông Nguyên soái dựng cờ đánh Tây.(3)
3. Sông Côn khi cạn, khi đầy
Khí thiêng đất nước, nơi này vẫn thiêng. (4)

(1). Đây là lời một nghĩa quân thương tiếc ông Thái Vĩnh Chinh, một trong những lãnh tụ của phong trào Cần Vương.
(2). Ông Hưởng Hiệu: tức ông Nguyễn Duy Hiệu người làng Thanh Hà, xã Diên Phước (thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Quảng Nam năm 1885. Sau khi nghĩa quân bị tan rã, ông bị Nguyễn Thân bắt ở núi Phúc Sơn (1888) và bị giặc Pháp kết án tử hình.
(3). Ông Nguyên soái tức ông Mai Xuân Thưởng, người làng Phú Lạc, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, khởi
1. Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn (1)
2. Đài Nghiên, tháp bút chưa mòn
Hỏi ai xây dựng nên non nước này. (2)

1. Hỡi cô đội nón ba tầm
Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang
2. Phiên rằm chợ chính Yên Quang (3)
Yên Hoa anh đợi hoa nàng mới mua (4)

(1). Thê Húc: có nghĩa là ánh mặt trời ban mai đậu lại.
(2). Đài Nghiên, tháp Bút: do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào giữa thế kỷ 19.
(3). Yên Quang: tên một làng cũ ở phía nam hồ Trúc Bạch thuộc tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ (nay thuộc Hà Nội)
(4). Yên Hoa: là tên cũ làng Yên Phụ
1. Ớt cay là ớt Định Công
Nhãn ngon là loại nhãn lồng làng Quang. (1)

1. Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây. (2)

1. Thanh trì buôn bán mọi nơi
Đồng Nhân, Thúy Ái là nơi chăn tằm.
2. Làng Mơ thì bán rượu tăm
Sở lờ cua ốc, quanh năm đủ đời (3)

(1). Làng Quang: tức làng Thanh Liệt, Hà Nội.
(2). Đầm Sét: là một đoạn của sông Kim Ngưu cũ, trước kia nối liền với Hồ Tây.
(3). Thanh Trì: làng ở ven sông Hồng, nhân dân thường làm nghề buôn bán. Làng này còn nổi tiếng về làm bánh cuốn.
– Đ1. Mình về đường ấy thì xa
Để anh bắc cầu sông cái về qua Ninh Bình
2. Đất Ninh Bình có chùa Non Nước
Núi Phi Diên, Hồi Hạc xung quanh.
Em về em nhớ quê anh. (1)

(1). Núi Non Nước (núi Dục Thúy): trên đó có chùa Non Nước.
– Núi Phi Diên (núi Cánh Diều), núi Hồi Hạc (núi Gối Hạc): là những thắng cảnh của Ninh Bình
1. Ai lên nhắn chị hàng bông
Có muốn lấy chồng thì xuống Nguyệt Viên
2. Nguyệt Viên lắm thóc, nhiều tiền
Lại có sông liền tắm mát, nghỉ ngơi.
3. Chiều chiều ba dãy cá tươi
Chẳng ăn cũng thiệt, chẳng chơi cũng hoài. (1)

1. Muốn ăn cá bống kho gừng
Thì về Kẻ Mỹ đánh thừng với anh (2)

(1). Nguyệt Viên: nay thuộc xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
(2). Kẻ Mỹ: Làng Mỹ Đà, xã Hoằng Anh, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
1. Ai về nhớ vải Định Hòa
Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê
2. Nhớ dừa Quảng Hán, Lưu Khê
Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào. (1)

1. Đông Thành là mẹ là cha
Đói cơm, rách áo thì ra Đông Thành. (2)

1. Phủ Quỳ đi có về không
Mồ xanh vợ để tang chồng là đây. (3)

(1). Các địa phương trên đều thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
(2). Đông Thành: tức huyện Yên Thành, Nghệ An là huyện nhiều lúa nhất tỉnh, tục ngữ có câu: “Ngệ: Yên Thành, Thanh: Nông Cống”
(3). Phủ Quỳ: tức huyện Quỳ Châu, Nghệ An, trước kia là nơi nước độc.
ồng Nhân, Thúy Ái: hai làng này cũng ở ven sông Hồng.
– Làng Mơ: tức là làng Hoàng Mai, Bạch Mai, Hà Nội.
– Sở lờ: tức làng Sở Thượng. Thời xưa đa số nhân dân đi mò cua, bắt ốc và làm nghề đan lờ.
1. Ai lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu.
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm
2. Nào ai đi chợ Thanh Lâm
Mua anh một áo vải thâm hạt dền. (1)

1. Cô kia thắt dải lưng xanh
Có về làng Vĩnh với anh thì về
2. Làng Vĩnh có cây bồ đề
Có sông tắm mát có nghề làm gai. (2)

(1). Đồng Tỉnh: là nơi chuyên bán thuốc lào, Huê Cầu: tức Xuân Cầu, trước thuộc tỉnh Bắc Ninh, sau thuộc Hưng Yên, Thanh Lâm: thuộc Hải Dương.
(2). Làng Vĩnh: nay thuộc thôn Cát Tường, xã An Hòa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
1. Dịu dàng nết đất An Dương
Xưa nay là chốn văn chương nổi tài (1)
2. Nhất đẹp là gái làng Cầu (2)
Khéo ăn, khéo mặc, khéo hầu mẹ cha.

1. Lênh đênh qua cửa Thần Phù (3)
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

(1). An Dương: thuộc xã Tân Tiến, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Xưa kia có nhiều người học giỏi, lắm thầy đồ.
(2). Làng Cầu: tức làng Lam Cầu, huyện Duy Tiên, Hà Nam.
(3). Thần Phù: thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Xưa kia Thần Phù là một cửa bể hay có sóng dữ.
1. Ai về khe Mọ cùng đi (1)
Đồng bằng thì ít, rú ri thì nhiều.
1. Sa Nam trên chợ dưới đò (2)
Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên
Muốn ăn mà nỏ (chẳng) có tiền.

1. Ai về Hà Tĩnh thì về
Mặc lụa chợ Hạ, uống nước chè Hương Sơn. (3)

1. Đức Thọ gạo trắng nước trong (4)
Ai về Đức Thọ thong dong con người.

(1). Khe Mọ: thuộc xã Thanh Hương, huyện Thanh Chương, Nghệ An.
(2). Sa Nam: thị trấn Nam Đàn hiện nay thuộc tỉnh Nghệ An.
(3). Chợ Hạ: tức vùng Châu Phong, huyện Đức Thọ, Hương Sơn: một huyện của Hà Tĩnh.
(4). Đức Thọ: huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh.
1. Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu
2. Anh thương em chẳng ngại sang giầu
Mứt hồng đôi lượng (lạng), trà tầu đôi cân. (1)

1. Ai đua sông trước thì đua
Sông sau có miếu thờ vua thì đừng. (2)

1. Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau. (3)

(1). Cao Lãnh: thuộc Đồng Tháp Mười. Tân Châu: thuộc An Giang đối mặt với Đồng Tháp Mười.
(2). Sông Trước: sông Tiền Giang
– Sông Sau: sông Hậu Giang
(3). Sông Mỹ: sông Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang.
1. Đất Châu Thành anh ở
Xứ Cần Thơ nọ em về
2. Bấy lâu sông cận, biển kề
Phân tay mai trước (trúc) dầm dề hột châu. (1)

1. Ngó qua bên cảnh Tô Châu (2)
Thấy em gánh nước trên đầu giắt trâm.

(1). Cần Thơ: thuộc tỉnh Hậu Giang.
(2). Tô Châu: thuộc Hà Tiên, Kiên Giang.

III. TÌNH YÊU NAM NỮ

1. Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.

1. Chăn kia nửa đắp nửa hờ
Gối kia nửa đợi, nửa chờ duyên em.

1. Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương.

1. Thương em vô giá quá chừng,
Trèo non quên mệt, ngậm gừng quên cay.

1. Chẳng chua cũng thể là chanh
Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây
2. Muốn cho có đấy có đây
Sơn lâm chưa dễ một cây nên rừng.
1. Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước biết gửi mình vào đâu.

1. Ai về cho em về theo
Ngó truông truông rậm, ngó đèo đèo cao.

1. Muốn sang nhưng ngại vắng thuyền
Muốn về bên nớ nhưng duyên lỡ rồi!

1. Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.

1. Cô kia đứng ở bên sông
Muốn sang anh ngỏ cành hồng cho sang.

1. Vì tình anh phải đi đêm
Ngã năm, bảy cái, đất êm hơn giường.
1. Anh còn son, em cũng còn son
ước gì ta được làm con một nhà.

1. Trăm năm ghi tạc chữ “đồng”
Dù ai thêu phượng, vẽ rồng mặc ai.

1. Lòng em đã quyết thi hành
Đã cấy thì gặt với anh một mùa.

1. Ước ao ăn ở một nhà
Ra vào đụng chạm kẻo mà nhớ thương.

1. Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi
Giậm ra ván nát, thuyền thì long đanh.
1. Đôi ta lên thác xuống ghềnh
Em ra đứng mũi cho anh chịu sào.

1. Xa xôi dịch lại cho gần
Làm thân con nhện mấy lần vương tơ.

1. Chuồn chuồn mắc phải tơ vương
Nào ai quấn quýt thì thương nhau cùng.

1. Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
2. Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồn có lối nhưng chưa ai vào.
1. Thân em như tấm lụa đào
Còn nguyên hay đã xé vuông nào cho ai?

1. Thân em như tấm lụa đào,
Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai
2. Em vin cành trúc, em tựa cành mai
Đông đào tây liễu, biết ai bạn cùng!

1. Thân em như ớt chín cây,
Càng tươi ngoài vỏ, càng cay trong lòng.

1. Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
2. Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
1. Em về cắt rạ, đánh tranh
Chặt tre, trẻ lạt cho anh lợp nhà
2. Sớm khuya hòa thuận đôi ta
Hơn ai gác tía, lầu hoa một mình.

1. Xa xôi chi nữa mà lầm,
Phải hương hương bén, phải trầm trầm thơm.

1. Dẫu mà không lấy được em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu.
2.- Tu mô cho em tu cùng,
May ra thành Phật thờ chung một chùa.
1. Thấy em anh cũng muốn chào,
Sợ lòng bác mẹ cây cao lá dài.

1. Thầy em anh cũng muốn thương
Sợ lòng bác mẹ soi gương chẳng tường.

1. Đôi ta như lúa đòng đòng
Đẹp duyên nhưng chẳng được lòng mẹ cha.
2. Đôi ta như chỉ xe ba,
Thầy mẹ xe ít đôi ta xe nhiều.

1. Mưa từ trong núi mưa ra,
Mưa khắp thiên hạ mưa ra chùa Thầy
2. Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ non.
1. Thương em anh cũng muốn thương
Nước thì muốn chảy nhưng mương chẳng đào
2. Em về lo liệu thế nào,
Để cho nước chảy lọt vào trong mương.

1. Đôi ta như đũa trong kho,
Không tề, không tiện, không so cũng bằng
2. Đôi ta như thể con bài,
Đã quyết thì đánh, đừng nài thấp cao
3. Đôi ta như đá với dao,
Năng liếc năng sắc, năng chào năng quen.
1. Răng đen nhưng nhức hạt dưa
Miệng cười tủm tỉm như chưa có chồng
2. Chưa chồng anh kiếm chồng cho,
Chưa con anh kiếm con cho mà bồng.

1. Chim khôn mắc phải lưới hồng,
Hễ ai gỡ được đền công lạng vàng,
2. Đền vàng anh chẳng lấy vàng
Hễ anh lấy được thì nàng lấy anh.

1. Cô kia đi đường với ta
Trồng bông bông tốt, trồng cà cà sai
2. Cô đi đường ấy với ai?
Trồng bông bông héo, trồng khoai khoai hà.
1. Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi.

1. Mặt trời đã xế về tây
Hỡi cô cắt cỏ bên đầy bên vơi
2. Cô còn cắt nữa hay thôi?
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.

1. Đường xa xa thật là xa!
Mượn mình làm mối cho ta một người.
2. Một người mười tám đôi mươi,
Một người vừa đẹp, vừa tươi như mình.
1. Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu,
2. Trầu này têm những vôi tàu
Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay.
3. Trầu này ăn thật là say
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng.
4. Dù chẳng nên đạo vợ chồng,
Xơi dăm ba miếng cho lòng nhớ thương.
5. Cầm lược lại nhớ đến gương,
Cầm khăn nhớ túi, nằm giường nhớ nhau.
1. Trầu này trầu quế, trầu hồi
Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình.
2. Trầu này trầu tính trầu tình
Trầu nhân trầu ngãi, trầu mình lấy ta.
3. Trầu này têm tối hôm qua
Giấu cha giầu mẹ, đem ra cho chàng.
4. Trầu này không phải trầu hàng,
Không bùa không thuốc, sao chàng không ăn?
5. Hay là chê khó chê khăn?
Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.
1. Trầu xanh, cau trắng, chay vàng
Cơi trầu bịt bạc, thiếp chàng ăn chung
2. Trầu xanh, cau trắng, chay hồng
Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên.

1. Trầu không ăn vôi ắt là trầu nhạt
Cau không hạt ắt miếng cau già
2. Mình không lầy ta ắt là mình thiệt,
Ta không lấy mình ta biết lấy ai?
1. Sáng ngày tôi đi hái dâu
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
2. Hai anh đứng dậy hỏi han
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
3. Thưa rằng tôi đi hái dâu
Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
4. Thưa rằng bác mẹ tôi răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
1. Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
2. Em nhặt thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?
3. Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
4. Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy ngồi khâu cho cùng
5. Khâu rồi anh sẽ trả công
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho
6. Giúp cho một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
7. Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo
8. Giúp em quan tám tiền treo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
1. Hỡi cô tát nước quang mây!
Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng.
2. Cây ngô đồng cành cao cành thấp
Ngọn ngô đồng lá dọc lá ngang
3. Quả dưa gang ngoài xanh trong trắng
Quả mướp đắng ngoài trắng trong vàng,
4. Kể từ ngày anh gặp được nàng
Lòng càng ngao ngán, dạ càng ngẩn ngơ.
1. Đêm qua trời sáng trăng rằm
Anh đi qua cửa, em nằm không yên.

1. Vì mây cho núi lên trời
Vì cơn gió thổi hoa cười với trăng.
2. Vì chuôm cho cá bén đăng
Vì tình nên phải đi trăng về mờ.

1. Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
2. Nữa mai rồng ngược mây xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non?
1. Đầu năm ăn quả chanh yên
Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng.
2. Vì cam cho quýt đèo bòng,
Vì em nhan sắc cho lòng anh thương.

1. Con dao vàng dọc lá trầu vàng
Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa.

1. Hoa thơm hoa ở trên cây,
Đôi mắt em lúng liếng, dạ anh say lừ đừ.

1. Hoa thơm xuống đất cũng thơm
Em giòn, rách áo, đói cơm cũng giòn.
1. chớ chê em xấu, em đen
Em như nước đục, đánh phèn lại trong.

1. Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi!ư
2. Mặt trăng sánh với mặt trời
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.

1. Mình ơi có nhớ ta chăng?
Ta như sao vượt chở trăng giữa trời.
1. Vào vườn trảy quả cau con
Anh thấy em giòn muốn kết nhân duyên
2. Hai má có hai đồng tiền,
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ưa.
3. Anh đã có vợ con chưa?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào
4. Mẹ già anh ở nơi nao?
Để em tìm vào hầu hạ thay anh.

1. Thấy anh như thấy mặt trời
Chói chang khó ngó, trao lời khó trao.
1. Chả tham nhà ngói rung rinh,
Tham về một nỗi anh xinh miệng cươi.

1. Tình thương quán cũng như nhà,
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói xây.

1. Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau
2. Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái nón đội đầu như thể hoa sen.

1. Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
1. Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh

1. Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
2. Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
3. Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng
4. Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
5. Chín thương cô ở một mình
Mười thương con mắt có tình với ai.
1. Sáng trăng suông sáng cả bờ sông
Ta được cô ấy, ta bồng ta chơi
2. Ta bồng ta tếch lên trời
Hỏi ông Nguyệt Lão: “tốt đôi chăng là?”

1. Ước gì anh hóa ra hoa
Để em nâng lấy rồi mà gói khăn
2. Ước gì anh hóa ra chăn,
Để cho em đắp, em lăn cùng giường.
3. Ước gì anh hóa ra gương
Để cho em cứ ngày thường em soi.
4. Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi, trầu vàng.
1. Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng.
2. Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
3. Xây dọc anh lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

1. Gối mềm, gối chiếu không êm,
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

1. Lên non thiếp cũng lên theo,
Tay vịn chân trèo, hái trái nuôi nhau.
1. Cái quạt mười tám cái nan
Ở giữa phất giấy, hai nan hai đầu
2. Quạt này em để che đầu,
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này.
3. Ước gì chung mẹ chung thầy
Để em giữ cái quat này làm thân.
4. Rồi ta chung gối, chung chăn
Chung quần, chung áo, chung chăn đội đầu
5. Nằm thời chung cái giường Tàu
Dậy thời chung cả hộp trầu, ống vôi.
6. Ăn cơm chung cả một nồi
Gội đầu chung cả dầu hồi, nước hoa
7. Chải đầu chung cái lược ngà,
Soi gương chung cả nhành hoa giắt đầu.
1. Chàng về thiếp cũng xin theo
Qua sông nỉ nước, qua đèo nỉ non.

1. Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
Thất bát sông cũng lội,
Tứ cửu đèo cũng qua. (1)

1. Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới sai tấc nguyền. (2)

1. Hồng Hà nước đỏ như son
Chết đi thì chớ, sống còn lấy anh.

(1). Còn có câu:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua.
(2). Đồng Nai: tên một con sông ở Nam Bộ.
– Thiên Mụ: chùa Thiên Mụ thuộc thành phố Huế.
1. Thủy chung em giữ trọn lời,
Chết đi thì chịu, lìa đôi không lìa.

1. Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió gió đừng rung cây.
2. Rung cây, rung cội, rung cành,
Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng.

1. Ai xinh thì mặc ai xinh
2. Ông tơ chỉ quyết xe mình với ta.

1. Đôi ta như thể con tằm,
Cùng ăn một lá cùng nằm một nong
2. Đôi ta như thể con ong
Con quấn, con quýt, con trong con ngoài.

1. Yêu nhau chẳng lọ chiếu giường
Dẫu rằng tầu lá che sương cũng tình.

1. Yêu nhau gánh gạch về đây
Chẳng đắp nên núi cũng xây lên thành.

1. Tay bưng đĩa muối tay bợ sàng rau
Thủy chung như nhất, sang giầu mặc ai.

1. Đôi ta như lúa phai màu
Đẹp duyên thì lấy, tham giầu làm chi.

1. Đôi ta ở đất làm thừng (1)
Trăm chắp ngàn nối, xin đừng quên nhau.

(1). Có bản chép: biết nhau từ thủa buôn thưng.
1. Tay nâng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau.

1. Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
2. Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.

1. Ấy ai dắt mối tơ mành
Cho thuyền quen bến, cho anh quen nàng.
2. Tơ tằm đã vấn thì vương
Đã trót dan díu thì thương nhau cùng.
1. Chiếc buồm nho nhỏ,
Ngọn gió hiu hiu.
2. Nay nước thủy triều
Mai lại nước rươi…
3. Sông sâu sóng cả em ơi!
Chờ cho sóng lặng
Buồm xuôi, ta xuôi cùng.
4. Trót đa mang vào kiếp bềnh bồng
Xuống ghềnh lên thác, một lòng ta thương nhau.

5. Thương ai da diết diết da
Áo em hai vạt trải ra anh nằm.
1. Thương cha thương mẹ có khi
Thương em lúc đứng, lúc đi, lúc ngồi
2. Thương cha thương mẹ có hồi.
Thương em lúc đứng, lúc ngồi cũng thươngl

1. Thuyền ơi có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

1. Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây,
Như con chèo bẻo xa cây măng vòi.

1. Núi cao chi lắm núi ơi!
Núi che mặt trời không thấy người thương.
1. Vì ai cho thiếp võ vàng?
Vì chàng tư lự, hoa tàn nhị rơi
2. Cực lòng thiếp lắm chàng ơi!
Biết rằng lên ngược, xuống xuôi đằng nào?

1. Thẩn thơ đứng gốc cây mai
Bóng mình lại ngó bóng ai mình lầm.
2. Một chờ, hai đợi, ba trông
Bốn thương, năm nhớ, bảy tám chín mong, mười tìm!

1. Thương em nỏ (chẳng) biết mần răng
Mười đêm ra đứng trông trăng cả mười.
1. Chiều chiều ra đứng gốc cây
Trông chim bay liệng, trông mây lưng trời.
2. Trông xa xa tít xa vời,
Những non cùng nước, những đồi cùng cây.

1. Sông sâu cá lội mất tăm
Chín tháng cũng đợi, một năm cũng chờ.
2. Chờ anh chờ ngẩn chờ ngơ
Chờ hết mùa mận, mùa mơ, mùa đào…
3. Chờ anh cho tuổi em cao
Cho duyên em muộn, má đào em phai.
1. Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ
2. Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
3. Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

1. Chiều chiều ra ngõ đứng trông
Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người.

1. Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
1. Thương thương, nhớ nhớ, sầu sầu
Một ngày ba bận ra cầu đứng trông
2. Thấy người nam, bắc, tây, đông
Thấy người thiên hạ mà không thấy chàng.

1. Nhớ ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi.
2. Nhớ ai hết đứng lại ngồi
Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.
3. Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa.
1. Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.

1. Nhớ ai nhớ mãi thế này?
Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn.

1. Nhớ ai như điếu thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

1. Thà rằng chẳng biết cho xong
Biết ra như xúc như đong lấy sầu.

1. Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
1. Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng
Nước uống cầm chừng để dạ thương em.

1. Thương em chẳng biết để đâu
Để vào tay áo, lâu lâu lại dòm.

1. Áo xông hương của chàng vắt mắc
Đêm em nằm em đắp lấy hơi,
2. Gửi khăn, gửi túi, gửi lời
Gửi đôi chàng mạng cho người đằng xa (1)
3. Vì mây cho núi lên xa
Mây cao mù mịt, núi nhòa xanh xanh.

(1). Chàng mạng: một thứ lưới bằng sợi hay bằng gai đan mắt võng để đặt đồ đạc vào trong đó gánh đi.
1. Lá này gọi lá xoan đào
Tương tư gọi nó thế nào hở em?
2. Lá khoai anh ngỡ lá sen
Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn em khêu.

1. Mình em như cây thầu dầu,
Ngoài tươi, trong héo, giữa sầu tương tư
2. Đêm qua ba bốn lần mơ
Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không.

1. Em ôm bó mạ xuống đồng
Miệng ca, tay cấy mà lòng nhớ ai.
1. Ai về đường ấy hôm mai
Gửi dăm điều nhớ, gửi vài điều thương
2. Gửi cho đến chiếu đến giường
Gửi cho đến chốn buồng hương em nằm.

1. Cá buồn cá lội tung tăng
Người buồn người biết đãi đằng cùng ai?
2. Phương đông chưa rạng sao mai
Đồng hồ chưa cạn, biết lấy ai bạn cùng? (1)

1. Chàng về thời thiếp xin đưa
Cầu trời đừng nắng, chớ mưa trơn đường.

(1). Đây là đồng hồ nước, ngày xưa đo thời gian bằng cách cho nước rỏ từng giọt.
1. Chẳng chè, chẳng chén sao say
Chẳng thương, chẳng nhớ sao hay đi tìm?
2. Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể bắc, đi tìm bể đông.

1. Đói lòng ăn nửa quả sim
Uống lưng bát nước, đi tìm người thương.
2. Người thương ơi hỡi người thương!
Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng?

1. Ra về tay nắm lấy tay
Mặt nhìn lấy mặt, lòng say lấy lòng.
1. Ai về ai ở mặc ai
Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh

1. Gió vàng hiu hắt năm canh
Đường xa, dặm vắng xin anh đừng về
2. Mảnh trăng đã trót lời thề
Làm chi để gánh nặng nề riêng ai.

1. Anh về em nắm cổ tay
Em dặn câu này anh chớ có quên.
2. Đôi ta đã trót lời nguyền
Chớ xa xôi mặt mà quên mảng lòng.
1. Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm lấy áo ta đề câu thơ
2. Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ “trung”, chữ “hiếu”, chữ “tình” là ba
3. Chữ “trung” thì để phần cha
Chữ “hiếu” phần mẹ đôi ta chữ “tình”.

1. Mình về có nhớ ta chăng?
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
2. Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.
1. Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.
2. Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy.

1. Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần
Làm thân con nhện mấy lân vương tơ.
2. Chắc đâu trong đục mà chờ
Hoa thơm mất tuyết nương nhờ vào đâu?

1. Chàng về để áo lại đây
Phòng khi em nhớ, cầm tay đỡ buồn.
1. có nên thì nói là nên
Chẳng nên sao để đấy quên đây đừng
2. Làm chi cho dạ ngập ngừng
Đã có cà cuống thì đừng hạt tiêu.

1. Có yêu thì nói rằng yêu
Chẳng yêu thì nói một điều cho xong
2. Làm chi dở đục dở trong
Lờ lờ nước hến cho lòng tương tư.

1. Tới đây phân rẽ đôi đàng
Của anh anh gánh, của nàng nàng bưng.
1. Căn duyên còn đó hỡi trời?
Gió nam phảng phất mát rồi lại không!

1. Chẳng yêu nhau được thì thôi
Xin chàng đừng tẩy nước vôi mà nồng
2. Chẳng yêu nhau được thì đừng
Xin chàng chớ tẩy nước gừng mà cay.

1. Yêu nhau xin quyết một lòng
Đậu ngâm ra giá đãi đằng nhau chi?

1. Mấy lời em nói
Anh hong khói để bền
Dầu trăm năm nữa không quên lời nào.
1. Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường
2. Thấy em nằm đất anh thương
Anh ra kẻ chợ đóng giường tám thang
3. Bốn góc thì anh thếp vàng
Bốn chân thếp bạc, tám thang chạm rồng
4. Bây giờ phải bỏ giường không
Em đi lấy chồng phí cả công anh.

1. Yêu nhau xa mấy cũng gần
Ghét nhau cách một bàn chân cũng lìa.
1. Từ ngày chưa bén duyên chàng
Như chuông khác tiếng, như vàng pha thau
2. Từ ngày ta bén duyên nhau
Như áo phải dầu, gột cũng chẳng phai
3. Bây giờ chàng đã nghe ai
Áo hoen mặc áo, dầu phai mặc dầu.

1.Trước sao đằm thắm muôn phần
Nay sao đểnh đoảng như cần nấu suông?

1. Tưởng rằng trọn thủy, chọn chung
Không hay như pháo nổ đùng ngang lưng.
1. Đêm qua đêm lạnh đêm lùng
Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài.
2. Bây giờ chàng đã nghe ai
Áo ngắn chẳng đắp, áo dài không chung.
3. Bây giờ sự đã nhạt nhùng,
Dấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua?

1. Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa, bến cũ, con đò khác đưa. (1)

1. Cây đa bậc cũ lở rồi
Đò đưa bến khác, bạn ngồi chờ ai?

(1). Còn có câu:
Trăm năm dù lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ, con đò vẫn đưa.
1. Đất sông lại lở xuống sông
Không ai chờ bạn như công ta chờ.

1. Chim xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa
2. Cực lòng em phải nói ra
Chờ trăng trăng xế, chờ hoa hoa tàn. (1)

1. Có bạc em tình phụ tiền
Có nhân ngãi mới em quên anh rồi
2. Có oẳn em tình phụ xôi
Có cam phụ quýt, có người phụ ta.

(1). Ở Trung Bộ có câu:
Chim xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no, tắm mát, lên nhành nghỉ ngơi.
Cực lòng Lan lắm, Huệ ơi!
Kiếm nơi mô im mát, Huệ ngồi cho Lan phân
1. Nhớ khi gánh nặng anh chờ
Qua cầu anh đợi, bây giờ em quên.

1. Có quán tình phụ bóng đa
Ba năm quán đổ, cây đa vẫn còn
2. Có lá lốt tình phụ xương sông.
Có chùa bên Bắc, miền Đông dễ tàn.

1. Trách duyên, trách số lỡ làng
Cầm gương gương tối, cầm vàng vàng phai.

1. Trách ai tham phú phụ bần
Tham xa mà bỏ nghĩa gần thủa xưa.
1. Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao. (1)

1. Phận em sao lắm dở dang
Cầm tiêu tiêu gẫy, cầm đàn đứt dây.

1. Thà rằng chẳng biết cho đừng
Biết ra dan díu nửa chừng lại thôi.

1. Đường xa ơi hỡi đường xa
Đem sầu tới bỏ cho ta mà về.

1. Con sông bên lở bên bồi
Một con cá lội mấy người buông câu.

(1). Còn có câu:
Trách người quân tử vô tình
Có gương mà để bên mình biếng soi.
1. Tham vàng bỏ ngãi anh ơi!
Vàng thì ăn hết, ngãi tôi hãy còn.

1. Người sao một hẹn thì nên
Tôi sao chín hẹn thì quên cả mười!

1. Ở chi hai dạ ba lòng
Dạ cam thì ngọt, dạ bòng thì chua.

1. Mưa xuân lác đác vườn đào
Công anh đắp đất, ngăn rào vườn hoa.
2. Ai làm gió táp mưa sa
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn.
1. Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
2. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay!
3. Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
4. Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
5. Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra!
1. Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoa
2. Bao giờ trạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình.
3. Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ta
4. Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

1. Công anh tháng đợi năm chờ
Sao em dứt chỉ, lìa tơ cho đành?
1. Vì ai kim cúc phân ly
Nghĩa nhân gián đoạn chỉ vì tại anh.

1. Công anh lên xuông, xuống lên
Mòn đàng chết cỏ, nỏ (chẳng) nên chuyện gì.

1. Công anh bắt tép nuôi cò
Cò ăn, cò lớn, cò dò lên cây

1. Bấy lâu lên ngọn sông Tân
Muốn tìm cá nước phải lần trời mưa
2. Tiếc công đắp đập be bờ
Để ai quẩy đó, mang lờ đến đơm.
1. Tiếc công rày xuống, mai lên
Mòn đàng chết cỏ không nên tự trời.
2. Tưởng rằng kèo cột ở đời
Ai ngờ cột rã, cột rời đôi phương.

1.Thân em như cái quả xoài trên cây
Gió đông, gió tây, gió nam, gió bắc,
2. Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành
Một mai vô tình rụng xuống biết vào tay ai?
3. Kìa khóm trúc, nọ nhành mai
Ông Tơ bà Nguyệt xe hoài chẳng thương!
1. Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng
Anh tiếc công anh gắn bó với nàng bấy lâu.
2. Bây giờ nàng lấy chồng đâu?
Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng
3. Trăm cau anh để cúng nàng
Nghìn vàng anh đốt giải oan lời thề.
4. Xưa kia nói nói thề thề
Bây giờ bẻ khóa, trao chìa cho ai?
5. Bây giờ nàng đã nghe ai
Gặp anh ghé nón, chạm vai chẳng chào!
1. Hai ta làm bạn thong dong
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
2.Bởi chưng thầy mẹ nói ngang
Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau.

1. Trách cha, trách mẹ nhà chàng
Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau
2. Thực vàng chẳng phải thau đâu
Đừng đem thử lửa để đau lòng vàng.

1. Trách cha trách mẹ muôn phần
Ngồi bên đống bạc mà cân lấy chì.
1. Đã mang lấy cái thân tằm
Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ.

1. Yêu nhau chẳng lấy được nhau
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già.
2. Bao giờ xum họp một nhà
Con lợn lại béo, cau già lại non.

1. Đôi ta cùng bạn chăn trâu
Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hàng
2. Bao giờ cho gạo bén sàng
Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh.
1. Ai làm miếu nọ xa đình
Hạc xa hương án, đôi đứa mình đừng xa.

1. Lìa cây, lìa cội, ai nỡ lìa hoa
Lìa người bội bạc chớ đôi ta đừng lìa.

1. Chưa quen đi lại cho quen
Chưa gần đi lại vài phen cho gần.

1. Hai ta hái củi một rừng
Bứt dâu một cội, xin đừng nghe ai
2. Hai ta như rượu với nem
Đang say ngây ngất ai gièm chớ xa.
1. Khi say một chén cũng say
Khi nên tình nghĩa một ngày cũng nên.

1. Muốn cho biển hẹp như ao
Bắc cầu đòn gánh mà trao biển tình.

1. Khi xưa ai biết ai đâu
Chỉ vì điếu thuốc, miếng trầu nên quen.
2. Khi xưa biển rộng sông dài
Sao lưới chả mắc, sao chài chả quăng?
3. Bây giờ sông đã chắn đăng
Còn mang lưới mắc, chài quăng làm gì!
1. Mình ơi ta hỏi thực mình
Còn không hay đã chung tình với ai?

1. Mình về sao được mà về
Mặt trăng còn đó, lời thề còn đây

1. Một cành tre, năm bảy cành tre
Đẹp duyên thì lấy chớ nghe họ hàng.

1. Mình nói với ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
2. Con mình những đất cùng gio
Ta đi gánh nước tắm cho con mình.
1. Nước sông Gianh vừa trong vừa mát
Truông Quảng Bình nhỏ cát dễ đi
2. Dang ta ngứt ngọn từ bi
Cho lòng bên nớ, bên ni kết nguyền.

1. Nước trong nước chảy quanh chùa
Không yêu ta cũng bỏ bùa cho yêu.

1. Ngày ngày ra đứng mà trông
Bạn chả thấy bạn, tình không thấy tình.

1. Nhớ lời giao hẹn khi chiều
Dầu mưa sa, chớp rạch cũng liều mà đi.
1. Ra về lòng lại dặn lòng
Chanh chua chớ phụ, ngọt bồng chớ ham.

1. Tương tư chẳng ốm cũng sầu
Con ruồi đậu mép chẳng đau cũng buồn.

1. Thuyền ai lên xuống bến sông
Phải duyên, phải vợ, phải chồng thì vô.

1. Bóng trăng em tưởng bóng đèn
Bóng cây em tưởng bóng thuyền anh sang.

1. Thuyền chài, thuyền lái, thuyền câu
Biết thuyền nhân ngãi ở đâu mà tìm.
1. Thương mình mình chẳng biết cho
Cầm bằng gánh nặng mà dò đường trơn

1. Thương thương nhớ nhớ sầu sầu
Cơm ăn nỏ (không) được lấy trầu ngậm hơi.

1. Trăng tròn chỉ có đêm rằm
Tình ta tháng tháng, năm năm vẫn tròn.

1. Trời mưa gió rét kìn kìn
Đắp đôi dải yềm hơn nghìn chăn bông.

1. Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay.
1. Không thương nỏ nói khi đầu
Làm chi dan díu giữa cầu mà buông.

1. Làm chi cho dạ ngập ngừng
Đã có nơi đấy thì đừng nơi đây
2. Thôi đừng bắt cá hai tay
Cá thì xuống bể, chim bay về ngàn.

1. Những là lên miếu xuống nghè
Để tôi đánh trúc, đánh tre về trồng
2. Tưởng rằng nên vợ, nên chồng
Nào ngờ nói thế mà không có gì!
1. Những lời mình nói với ta
Sông sâu hóa cạn, đường xa hóa gần
2. Ai ngờ ra dạ lần khân
Sông cạn lại thẳm, đường gần lại xa.

1. Tưởng giếng sâu nối dây dài
Ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi dây.

1. Anh như táo rụng sân đình
Em như gái dở đi rình của chua

1. Anh về cuốc đất trồng cau
Cho em trồng ghé cây trầu một bên.
2. Mai sau trầu nọ lớn lên
Cau kia ra trái làm nên cửa nhà.
1. Anh về em chẳng dám cầm
Dang tay đưa bạn, ruột bầm như dưa.

1. Anh ơi đi lại cho dày
Thầy mẹ không gả em bày mưu cho.

1. Anh về em những trông theo
Trông cho khuất núi, qua đèo mới thôi.

1. Bởi thương nên dạ mới trông
Không thương em đã lấy chồng còn chi.

1. Cách sông cách núi cho cam
Cách một chỗ lội thiếp chàng xa nhau.
1. Cây cao mấy trượng cũng trèo
Đường xa mấy dặm cũng theo anh về.

1. Dầu chàng năm bảy mặt con
Thiếp đôi ba lứa vẫn còn nhớ nhau.

1. Đã thương cắt tóc trao tay
Tha hồ én liệng, nhạn bay mái ngoài.

1. Em như cây quế trong rừng
Thơm cay ai biết, ngát lừng ai hay!

1. Em về em lại ra ngay
Chàng đừng tưởng gió trông mây mà phiền.
1. Gặp anh em nở nụ cười
Vắng anh em lại giọt vơi giọt đầy.

1. Gặp em thì gặp cho lâu
Đừng gặp một ít thêm sầu lòng em.

1. Gần nhà mà chẳng sang chơi
Để em hái ngọn mồng tơi bắc cầu
2. Bắc cầu anh chẳng đi cầu
Để tốn công thợ, dễ sầu lòng em.

1. Mình em như cá giữa rào
Kẻ chài, người lưới biết vào tay ai.
1. Giả đò bắt ốc, hái rau
Đi ngang qua ngõ thấy nhau kéo buồn
2. Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn.

1. Lòng lại dặn lòng dù non mòn biển cạn
Dạ lại dặn dạ dù đá nát tàn phai
2. Dù cho trúc mọc thành mai
Em cũng không xiêu lòng lạc dạ, nghe ai phỉnh phờ.

1. Mình về mình bỏ ta đây
Như con tơ rối gỡ ngày nào xong.
1. Một lòng chỉ quyết lấy anh
Ong bay buớm lượn chung quanh mặc trời.

1. Một lời thề không duyên thì nợ
Hai lời thề không vợ thì chồng
2. Ba lời thề khơi núi lấp sông
Em quyết đi theo anh cho trọn đạo kẻo luống công anh đợi chờ.

1. Một miếng trầu năm ba lời dặn
Một chén rượu năm bảy lời giao
2. Anh chớ nghe ai sóng bể ba đào
Em đây giữ niềm tiết hạnh, anh chớ lãng xao em buồn.
1. Một lòng kết tóc xe tơ
Một niềm chỉ đợi chỉ chờ một anh

1. Muốn cho sông cạn đất liền
Kẻo anh đi lại tốn tiền đò giang.

1. Năng mưa thì giếng năng đầy
Anh năng đi lại, mẹ thầy năng thương.

1. Nước chảy xuôi con cá lội ngược
Nước chảy ngược con cá lội ngang
2. Thuyền em xuống bến Thuận An
Thuyền anh lại chảy lên ngàn anh ơi. (1)

(1). Thuận An: thuộc Thừa Thiên.
1. Ngày xem núi cao xanh ngát
Đêm xem trăng, trăng tắt sao mờ
2. Một mình em chừ lòng dạ ngẩn ngơ
Đêm năm canh giường không gối lạnh
biết có chờ được không?

1. Nghe tin anh có vợ rồi
Như ai dội đọi (bát) nước sôi trong lòng

1. Ngó hoài ra tận biển Đông
Thấy mây, thấy nước sao không thấy nàng.

1. Nhớ chàng sáng đứng trông xuôi
Trưa đi ngó ngược, tối ngồi trông ra.
1. Nguồn ân bể ái hẹn hò
một ngày nên nghĩa chuyến đò nên quen
2. Công cha nghĩa mẹ thiếp đền
Xin chàng đừng có kết duyên chốn nào
3. Xin đừng đứng thấp trông cao
Xin đừng tơ tưởng chốn nào hơn đây
4.Xin đừng tham gió bỏ mây
Tham vườn táo rụng bỏ cây nhãn lồng.

1. Vắng mặt nhân ngãi một ngày
Ngang bằng bác mẹ đem đầy biển Đông.
1. Nhớ chàng lắm lắm chàng ơi
Nhớ lời chàng nói, nhớ nơi chàng về
2. Nhớ khi chỉ núi giao thề
Nhớ từ trú quán, nhớ về quê hương.
3. Đêm nằm những nhớ cùng thương
Nói sao cho xiết mọi đường ái ân.

1. Qua cầu dừng bước trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp em sầu bấy nhiêu.

1. Ra về nhớ bạn khóc thầm
Năm thân áo vải ướt đầm cả năm.
1. Sóng sao cho vịt ướt lông
Rùa kêu, đá nổi, thiếp không bỏ chàng.

1. Tiện đây đưa một miếng trầu
Chẳng ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng.

1. Thương anh bụng sát tận da
Anh thì không biết tưởng là đói cơm.

1. Em toan tát bể cấy cần
Em toan đánh trúc trống sân nhà chàng
2. Vì đâu duyên phận lỡ làng
Để cho cành bạc lá vàng xa nhau.
1. Lên non cho biết non cao
Thương em đừng kể công lao em buồn.

1. Liệu bề thương được thì thương
Đừng trao gánh nặng giữa đường tội em.

1. Nào khi gánh nặng em chờ
Qua truông em đợi, bây giờ phụ em. (1)

1. Ngày ngày em đứng em trông
Trông non non ngất, trông sông sông dài.
2. Trông mây mây kéo ngang trời
Trông trăng trăng khuyết, trông người người xa.

(1). còn có câu:
Nhớ khi gánh nặng anh chờ
Qua cầu anh đợi bây giờ em quên
1. Trách cha trách mẹ em lầm
Cho nên em phải khóc thầm hôm mai.

1. Trách chàng chẳng dám trách ai
Trách chàng chê nụ hoa nhài không thơm.
2. Ai trắng như bông lòng tôi không chuộng
Người đó đen giòn làm ruộng tôi thương
3. Biết rằng dạ có vấn vương
Để tôi cậy mối tìm đường sang chơi

1. Anh thương em biết nói mần răng (làm sao)
Lấy gió làm quạt lấy trăng làm đèn.
1. Áo đen ai nhuộm cho mình
Cho duyên mình đậm, cho tình anh thương.

1. Bữa ăn có cá cùng canh
Anh chưa mát dạ bằng anh thấy nàng.

1. Đêm năm canh anh ngủ có ba
Còn hai canh nữa anh ra trông trời
2. Trông trời mau rạng đông ra
Để cho bướm chộ (thấy) mặt hoa bướm chào.

1. Đêm nằm ở dưới bóng trăng
Thương cha nhớ mẹ không bằng nhớ em.
1. Đêm qua anh nằm nhà ngoài
Để em thở ngắn than dài nhà trong
2. Ước gì anh được vô phòng
Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan.

1. Em ơi ta nguyện nhau cùng
Răng long, tóc bạc ta đừng quên nhau.

1. Em thì vác cuốc thăm đồng
Anh thì giả cách mang lồng chơi chim
2. Vì em anh phải đi tìm
Xưa nay anh biết chọi chim là gì.
1. Em thương ai nấp bụi nấp bờ
Sớm trông đò ngược, tối chờ đò xuôi
2. Thuyền anh đậu bến lâu rồi
Sao em chưa xuống mà ngồi thuyền anh?

1. Gặp nàng anh nắm cổ tay
Anh yêu vì nết, anh say vì tình
2. Thiên hạ lắm kẻ giầu, xinh
Nhưng duyên chẳng thuận, nhưng tình chẳng ưa.

1. Đấy, đây xứng đáng cũng vừa
Xin đừng kén chọn, lọc lừa nơi nao.
1. Gió đưa gió đẩy bông trang
Ai đưa ai đẩy duyên nàng tới đây
2. Tới đây thì phải ở đây
Bao giờ bén rễ, xanh cây hãy về.

1. Mẹ em khéo đẻ em ra
Đẻ em gốc bưởi cho ta đèo bòng.

1. Mẹ em khéo đẻ em ra
Đẻ em mười bốn, đẻ ta hôm rằm.
2. Đi đâu mà vội mà nhầm
Sao em chẳng đợi hôm rằm cho trong.
1. Răng đen nhoẻn miệng em cười
Dẫu trời đương nực cũng nguôi cơn nồng.

1. Rượu ngon cái cặn cũng ngon
Thương em chẳng luận chồng con mấy đời.

1. Thèm trầu mà chẳng dám xin
Thương em mà chẳng dám nhìn mặt em.

1. Thương em chẳng quản xa gần
Cầu không tay vịn cũng lần mà sang.

1. Thương em như lá đài bi
Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầu sương.
1. Khi đi thì bóng đang dài
Giờ về bóng đã nghe ai bóng tròn.

1. Khi đi thì quế chưa trồng
Khi về quế đã đơm bông trổ ngành.

1. Khi xưa một hẹn thì nên
Bây giờ chín hẹn em quên cả mười.

1. Trăng lên đỉnh núi trăng tà
Mình yêu ta thực hay là yêu chơi?
2. Trăng lên đỉnh núi trăng ngời
Yêu thời yêu thực, yêu chơi làm gì!
1. Ai làm con cá bống nó đi tu
Con cá thu nó khóc
2. Con cá lóc nó rầu
Phải chi ngoài biển có cầu
Em ra em vớt cái đoạn sầu cho anh.

1. Anh có thương em thì thương cho trót
Có trục trặc thì trục trặc cho luôn
2. Đừng làm theo thói ghe buồm
Nay về, mai ở cho buồn dạ em.

1. Anh mong gởi cá cho chim
chim bay ngàn dặm, cá chìm biển Đông.
1. Anh đi trên đường Ba Vát (1)
Anh đạp cát, cát nhỏ
2. Anh đạp cỏ, cỏ mòn
Yêu nhau từ độ trăng tròn
Bây giờ trăng khuyết vẫn còn yêu nhau.

1. Anh thương em ruột thắt gan bào
Biết em có thương lại chút nào hay không?

1. Anh về đếm hết sao trời
Em đây kết tóc, ở đời với anh.

1. Anh về kiếm vợ cho xong
Em là con tép nhỏ lộn rong khó tìm.

(1). Ba Vát: thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
1. Ăn cơm cũng thấy nghẹn
Uống nước cũng thấy nghẹn
2. Nghe lời em hẹn ra bãi đứng trông
Biển xanh bát ngát nhìn không thấy người.

1. Ân cha nghĩa mẹ chưa đền
Bậu mong ôm gối cuốn mềm theo ai? (1)

1. Bao giờ chợ Lớn hết vôi
Em đây hết đứng hết ngồi với anh
2. Bao giờ đá nổi vông chìm
Muối chua, chanh mặn mới tìm đặng em.

(1). Bậu: bạn.
1. Bậu có chồng chưa, bậu thưa cho thiệt
Kẻo để anh lầm tội nghiệp thân anh
2. Bậu nói với qua bậu không bẻ lựu, hái đào
Lựu đâu bậu bọc, đào nào cầm tay.

1. Bậu về kẻo mẹ bậu trông
Kẻo con bậu khóc kẻo chồng bậu ghen.

1. Biển cạn sông cạn, lòng qua không cạn (1)
Núi lở non mòn, nhớ bạn không quên
2. Đường còn đi xuống đi lên
Tình qua với bậu quyết nên vợ chồng.

(1). Qua: tôi.
1. Bốn mùa bông cúc nở sây
Để coi trời khiến duyên này về ai?

1. Bông ngâu rụng xuống cội ngâu
Em còn phụ mẫu dám đâu tự mình.
2. Bông quỳnh rụng xuống cội quỳnh
Dù ai ngậm ngọc dỗ mình đừng xiêu.

1. Bờ trơn, bờ trợt, bờ sình
Em ơi lỡ hẹn nên anh mới dầm mình ra đi.

1. Bước qua vườn ổi hái trầu
Hỏi thăm lê, lựu, măng sầu chín chưa?
1. Bởi mưa nên lấm
Bởi dặm nên dò
2. Có thương mới đợi mới chờ
Không thương ai ở vật vờ chi đây.
3. Buổi chợ đang đông con cá hồng anh chê lạt
Buổi chợ tan rồi, con tép bạc anh cũng khen ngon.

1. Buồn rầu, buồn rĩ, buồn nỉ, buồn non
Buồn vì một nỗi sớm con muộn chồng.

1. Buồn tình cha chả buồn tình
Không ai lẻ bạn cho mình kiếm đôi
2. Buồn ơi cha chả buồn ơi
Không ai nói chuyện cho tôi đỡ buồn.
1. Bước qua vườn ớt hái trầu
Hỏi thăm lê, lựu, măng sầu chín chưa?

1.Bước xuống ruộng sâu lỡ sầu tấc dạ
Tay ôm bó mạ, nước mắt hai hàng
2. Ai làm lỡ chuyến đò ngang
Cho sông cạn nước đôi đàng biệt ly?

1. Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuột lạt đứt
Chàng nhớ thiếp khi đắng nước, nghẹn cơm
2. Ba trăng là mây mươi hôm
Mai nam vắng trước, chiều nồm quạnh sau.
1. Bướm già thì bướm có râu
Thấy bông vừa nở, cắm đầu bướm châm
2. Bướm châm mà bướm lại lầm
Bông kia nở sớm ong châm mất rồi!

1. Bứt đi thì dạ không đành
Cách xa nhân ngãi như chỉ mành thắt gan.

1. Cá không ăn câu thật là cá dại
Bởi câu anh cầm câu ngãi, câu nhân.

1. Cam sành rã rượi bờ ao
Tưởng không anh hái, có rào thì thôi.
1. Cất tiếng than, hai hàng lụy nhỏ
Anh nói thương em rồi lại bỏ em đây.

1. Cây vông đồng gói chẳng đặng nem
Tại anh chậm bước nên em có chồng.

1. Chỉ điều ai khéo vấn vương
Mỗi người một xứ mà thương nhau đời.

1. Chiếc ghe kia nói có
Chiếc ghe nọ nói không
2. Phải chi miếu ở gần sông
Em thề một tiếng kẻo lòng anh nghi.
1. Chiều chiều én liệng, cò bay
Bâng khuâng nhớ bạn, bạn rày nhớ ai?

1. chiều chiều lo bảy, lo ba
Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên
2. Còn duyên anh cưới con heo
Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi.

1. Chiều chiều ra đứng bờ kinh
Gặp ai ở góa anh rinh về nhà.

1. Chiều chiều ra đứng bờ mương
Bên tình, bên hiếu, biết thương bên nào.
1. Chim bay về cội, cá lội về rừng
Muốn nên cơ nghiệp thì đừng bỏ em.

1. Chim buồn tình chim bay về núi
Cá buồn tình cá lủi xuống sông
2. Anh buồn tình anh dạo chốn non bồng
Dạo miền sơn cước, xuống chốn ruộng đồng mới gặp em.

1. Chim chuyền bụi ớt
Rớt xuống bụi cà
2. Hồi nào gắn bó với ta
Bây giờ bội nghĩa đi ra lấy chồng.
1. Chim quyên xuống đất tha mồi
Thấy em cực khổ anh đứng ngồi không yên.

1. Chờ anh, em gắng sức chờ
Chờ hồi mười bày, bây giờ ba mươi.

1. Chuông già đồng điếu chuông kêu
Anh già lời nói em xiêu tấm lòng.

1. Chưa chi họ đồn quẩn, đồn quanh
Đồn em là vợ, đồn anh là chồng.

1. Con cua không sợ, anh sợ con còng
Dao phay anh không sợ, chỉ sợ gái hai lòng hại anh.
1. Con cá đối nằm trên cối đá
Con chim đa đa đậu nhánh đa đa
2. Chồng gần không lấy, lấy chồng xa
Một mai cha yếu, mẹ già
Bát cơm ai xới, chén trà ai dâng?

1. Con chim chà chiện nó bay thấp, liệng cao
Nó kêu “lăng lăng líu líu”
2. Đôi ta lận đận, lịu địu sao nỡ dứt tình”?
Thà không anh ở một mình
Kết duyên rồi lại bạc tình sao nên!

1. Dao vàng cắt ruột máu rơi
Ruột đau chưa xót bằng lời em than.
1. Cởi cái thương trả phắt
Cắt cái nhớ cho rồi
2. Bao nhiêu lời nói những hồi
Bỏ vô nồi sấu, sôi rồi bỏ đi.

1. Đu đủ tía, dền dền cũng tía
Khoai lang giâm, ngọn mía cũng giâm
2. Củi tre chen lộn với trầm
Giữ sao cho khỏi kẻo lầm em ơi!

1. Đứt tay một chút còn đau
Huống chi nhân ngãi lìa nhau không đành.
1. Hai bên: bên liễu, bên đào
Mặc tình ý bạn thương bên nào thì thương.

1. Em đang vút nếp thổi xôi
Nghe anh có vợ, thúng trôi, nếp chìm.

1. Ghe lui còn để dấu dằm
Người yêu đâu vắng dấu nằm còn đây.

1. Gió hiu hiu chiều ruột thắt
Nhìn sao bên bắc, nước chảy bên đông
2. Ai xui chi những vợ vợ, chồng chồng
Không biết đây với đó dây tơ lòng có xe?
1. Khó than, khó thở, khó phân trần
Tóc không xe mà rối, ruột không dần mà đau.
2. Không ăn thì ốm, thì gầy
Ăn thì nước mắt chan đầy chén cơm.

1. Mía càng già càng tốt
Mía càng đốt càng ngon
2. Anh thương em đặng nghĩa vuông tròn
Mấy sông cũng lội, mấy hòn cũng leo.

1. Một sông dễ bắc mấy cầu
Thiếp là phận gái biết hầu mấy nơi?
1. Một tay hai trái khó bưng
Muốn bưng trái nọ thì đừng trái kia.

1. Ngó lên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Nao (1)
Anh thương em ruột thắt gan bào
Biết em có thương lại chút nào hay không?

1. Ngó lên chữ ứ
ngó xuống chữ ư
2. Anh thương em thủng thẳng chữ ừ
Anh đừng thương vội phụ mẫu từ nghĩa em.

1. Nghiêng tai hỏi nhỏ phật đồng
Trai tơ lấy gái có chồng đặng không?

(1). Vàm Nao: con sông nối liền sông Tiền và sông Hậu ở khúc Châu Đốc – Long Xuyên.
1. Ở xa nghe tiếng em cười
Trong tay cầm nén vàng mười cũng trao.

1. Ra đi là sự đã liều
Mưa mai cũng chịu, nắng chiều cũng cam.

1. Sông dài cá lội biệt tăm
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ.
2. Sông sâu cá lội vào bờ
Phải duyên thì lấy, đợi chờ nhau chi.

1. Sống ở dương gian không bắt được tay chàng
Thác xuống âm phủ em giở nắp hàng cho anh vô.
1. Thân em như thể bèo trôi
Sóng dập, gió dồi biết tựa vào đâu?
2. Thân em như thể trái chanh
Lắt lẻo trên cành nhiều kẻ ước ao.

1. Thiếp như cam, quýt, bưởi, bòng
Đắng the ngoài vỏ, trong lòng ngọt thanh.

1. Thuyền ai trôi trước
Đợi bước tới cùng
2. Chiều về trời đất mông lung
Phải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng tuyết sương.
1. Tay cầm cành bứa, lệ ứa hàng hàng
Thủa xuân xanh sao không gặp, để lúc hoa tàn mới gặp nhau?

1. Tiếc công lao đào ao thả cá
Năm bảy tháng trời người lạ đến câu
2. Tiếc công trang điểm bấy lâu
Trai tơ không gặp, gặp râu ba chòm

1. Tiếc công vạch lỗ, chui rào
Vô không gặp bậu, gai cào trầy lưng.
2. Tôi với mình thề trước miếu ông
Sống nằm một chiếu, chết chung một mồ.
1. Trải chiếu ra chàng ngồi một góc, thiếp ngồi một góc
Chàng than, thiếp khóc, tình hỡi là tình
Nằm đêm nghĩ lại anh bạc tình hay em?

1. Trông em đã mấy thu tròn
Khăn lau nước mắt muốn mòn con ngươi.

1. Tôi xa anh một ngày không ốm cũng đau
Mặt nhìn trăng trăng lặn, tay đếm sao sao tàn.
1. Trai ba mươi hãy đang xoan
Gái ba mươi tuổi đã toan về già.

1. Trâu kia gặm cỏ bờ ao
Anh kia không vợ đời nào có con?
2. Người ta con trước, con sau,
Thân anh không vợ như cau không buồng
3. Cau không buồng ra tuồng cau đực
Trai không vợ cực lắm anh ơi!
4. Người ta đi đón, về đôi
Thân anh đi lẻ, về loi một mình.

IV. HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

1. Làm thân con gái phải lo
Mùa đông rét mướt ai cho mượn chồng.

1. Bấy lâu sao chẳng nói năng
Bây giờ năng nói thì trăng xế tà.

1. Tròng trành như nón không quai,
Như thuyền không lái, như ai không chồng.
2. Gái có chồng như gông đeo cổ,
Gái không chồng như phản gỗ long đanh
3. Phản long đanh anh còn chữa được,
Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi.
Không chồng khốn lắm chị em ơi!
1. Con dế kêu sầu, sao anh không bắt ngắt râu
Để nó kêu rỉ rả suốt đêm thâu, em buồn.

1. Con chim trên cành cắn cây ngậm lá
Con cá dưới biển ẩn đá ngậm sao
2. Gặp mặt anh đây không nói không chào
Hay là em có nơi nào bỏ anh?

1. Cục đá lăn nghiêng lăn ngửa
Khen ai khéo sửa cục đá lăn tròn.
Giận thời em nói vậy chứ dạ còn thương anh.
1. Không chồng trông dọc, trông ngang,
Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi

1. Phải duyên thì bám như keo
Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh.

1. Hỏi vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày lắm kẻ gièm pha.

1. Một cành tre, năm bảy cành tre,
Lấy ai thì lấy chớ nghe họ hàng.

1. Còn duyên kén cá, chọn canh
Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ.
1. Còn duyên buôn cậy bán hồng
Hết duyên buôn mít cho chồng gặm xơ.

1. Cô kia nước lọ, cơm niêu
Chồng con chẳng có, nằm liều nuôi thân.
– Chồng con là cái nợ lần,
Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm!

1. Già thời bế cháu đỡ con
Già đâu lại ước cau non trái mùa.
– Già nay ước những của chua
Cau non trái mùa già vẫn muốn ăn!
1.Đi đâu mà chẳng lấy chồng
Người ta lấy hết, chổng mông mà gào
2. Gào rằng: “đất hỡi, trời ơi!
Sao không thí bỏ cho tôi tấm chồng”. (1)

1. Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm, về trưa mặc lòng.

1. Tám mươi ngả gậy ra ngồi
Hỏi rằng xuân có tái hồi nữa chăng?
– Xuân rằng xuân chẳng tái hồi
Bốn dài, hai ngắn mà lôi xuân vào. (2)

(1). Có bản chép:
Gào rằng đất thấp, trời cao
Sao không thí bỏ cho tao chút chồng?

(2). Bốn dài, hai ngắn: ám chỉ cái quan tài.
1. Chàng về thiếp cũng xin về
Chàng về Hồ Bắc, thiếp về Hồ Tây
2. Chàng bao nhiêu tuổi năm nay?
Chàng rằng mười tám, thiếp rày bốn ba.
3. Mồ cha đứa chê thiếp già
Thiếp còn gánh nổi một và trăm kim.
4. Trăm kim đổi lấy lạng vàng
Mua gương tư mã thiếp chàng soi chung.

1. Chàng về sắm sửa loan phòng,
Thiếp xin điểm phấn, tô hồng thiếp theo.
1. Bà già ra chợ Cầu Đông
Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
2. Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
“Lợi thì có lợi nhưng răng không còn”

1. Tiếc thay hạt gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục lại vần than rơm.
2. Tiếc thay hạt gạo tám xoan
Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà.

1. Đường đi những lách cùng lau
Cha mẹ tham giầu ép uổng duyên con.
1. Bắc thang lên đến tận trời
Bắt ông Nguyệt Lão đánh mười cẳng tay
2. Đánh rồi lại trói vào cây
Hỏi ông Nguyệt Lão nào dây tơ hồng?
3. Nào dây xe bắc, xe đông
Nào dây xe vợ, xe chồng người ta.
4. Ông vụng xe tôi lấy phải vợ già
Tôi thì đốt cửa, đốt nhà ông đi.

1. Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
Đêm nằm tơ tưởng ngỡ ông láng giềng.
1. Trách duyên lại giận trăng già
Xe tơ lầm lỗi hóa ra chỉ mành
2. Biết ai than thở sự tình
Chẳng qua mình lại biết mình mà thôi.

1. Mẹ em cấm đoán em chi
Để em sắm sửa em đi lấy chồng
2. Lấy chồng cho đáng tấm chồng
Bõ công trang điểm má hồng răng đen.

1. Thầy mẹ tham bạc, tham tiền
Tham con lợn béo, cấm duyên em già.
2. Để đến nay anh cưới em một nửa con gà
Dăm ba sợi bún, một và hạt xôi.
1. Mẹ em thấy của thời tham
Hang hùm cứ tưởng hang vàng ép con.
2. Nói ra thẹn với nước non
Ngậm vào cay đắng lòng con đêm ngày.

1. Chồng lên tám, vợ mười ba
Ngồi rỗi nu nống, nu na đỡ buồn
2. Mười tám vợ đã lớn khôn
Nu na nu nống chồng còn mười ba.
3. Mẹ ơi con phải gỡ ra
Chồng con nu nống nu na suốt ngày.
Đêm nằm khắc khoải canh chầy!…
1. Mẹ em tham thúng xôi rền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng
2. Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào
3. Bây giờ kẻ thấp, người cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng!

1. Tiếc thay hòn ngọc mà rơi xuống bùn!
Tiếc tờ giấy bạch để thằng bé cỏn con nó vẽ vời!

1. Răng đen nhưng nhức hạt na
Kén đi kén lại nó ra hạt bầu.
1. Mẹ em tham gạo, tham gà
Bắt em để bán cho nhà cao sang
2. Chồng em thì thấp một gang
Vắt mũi chưa sạch, ra đàng đánh nhau…
3. Nghĩ mình càng tủi, càng đau
Trách cha, trách mẹ tham giầu, tham sang.

1. Vô duyên, vô phúc!
Múc phải anh chồng già
Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng?
2. Nói ra đau đớn trong lòng
Ấy cái nợ truyền kiếp, có phải chồng em đâu!
1. Tiếc thay nước đục mà đựng chậu thau
Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài.
2. Tiếc người da trắng, tóc dài,
Đương xuân cha mẹ ép nài lấy lão sáu mươi.

1. Chẳng tham nhà ngói bức bàn
Trái duyên coi bẵng một gian chuồng gà
2. Ba gian nhà rạ lòa xòa
Phải duyên coi tựa chín tòa nhà lim.

1. Rung rinh nước chảy qua đèo
Bà già tấp tểnh mua heo cưới chồng.
1. Cái cò lặn lội bờ ao
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
2. Chú tôi hay tửu hay tăm
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
3. Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đên thừa trống canh.

1. Bắt ông Tơ mà cho ba đấm
Bắt bà Nguyệt đánh bốn mươi hèo
2. Duyên người ta xe buổi sớm
Duyên em buổi chiều mới xe.
1. Bà già đã tám mươi hai
Ngồi trong quan tài hát ví thợ sơn.

1. Công anh làm rể Chương Đài
Một năm ăn hết mười hai vại cà
2. Giếng đâu thì dắt anh ra
Kẻo anh chết khát vì cà nhà em.

1. Công anh làm rể ba năm
Chiếu chả được nằm, đất lại cắm chông
2. Con bà bà lại gả chồng
Để tôi vất vả, tốn công nhiều bề.
1. Rau răm cắt ngọn còn tươi
Những nơi phải lứa thì trời không xe.
2. Những nơi bạc ác, gớm ghê
Tôi không muốn lấy trời xe tôi vào
3. Tiếc thay cái sợi chỉ đào
Áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi
4. Bực mình tôi lắm trời ơi!
Muốn chôn bà Nguyệt, muốn vùi ông Tơ!
5. Giận người làm mối vẩn vơ
Duyên tôi đã lỗi, ông Tơ lại lầm.
1. Em như con hạc đầu đình
Muốn bay chẳng nhấc nổi mình mà bay.

2. Vắn (ngắn) tay với chẳng tới kèo
Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng được em.

1. Cái bống cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
2. Cho tôi mượn cái gầu sòng
Để tôi tát nước cho chồng tôi lên.

1. Bữa cơm múc nước rửa râu
Hầu cơm, hầu rượu, hầu trầu, hầu tăm,
2. Đêm đêm dắt cụ đi nằm
Than thân phận gái ôm lưng lão già
3. Ông ơi, ông buông tôi ra
Kẻo ai trông thấy, người ta chê cười.
1. Gà tơ xào với mướp già
Vợ hai mươi tuổi, chồng đà sáu mươi
2. Ra đường chị giễu, em cười
Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng
3. Đêm nằm tưởng cái gối bông
Giật mình gối phải râu chồng nằm bên
4. Sụt sùi tủi phận hờn duyên
Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.

1. Nơi thương cha mẹ biểu không
Nơi chẳng bằng lòng cha mẹ biểu ưng.
1. Trách lòng cha mẹ vụng toan
Bông búp không bán để tàn ai mua!

1. Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

1. Xấu xa cũng thể chồng ta
Dù cho tốt đẹp cũng ra chồng người.

1. Vợ chồng như đôi cu cu
Chồng đi trước, vợ gù gù theo sau

1. Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười hớn hở: “rằng anh giận gì?”
2. Chồng giận thì vợ bắt lời
Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê.
1. Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

1. Đói no một vợ một chồng
Một niêu cơm tấm, dầu lòng ăn chơi.

1. Làm trai lấy được vợ hiền
Bằng cầm đồng tiền mua được miếng ngon.
2. Làm gái lấy được chồng khôn
Cầm bằng cá vượt vũ môn hóa rồng
1. Qua đồng ghé nón thăm đồng
Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu.

1. Chim Quyên ăn trái nhãn lồng
Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

1. Đôi ta lấm tấm hoa nhài
Chồng đây, vợ đấy kém ai trên đời
2. Muốn cho gần chợ ta chơi
Gần sông tắm mát, gần nơi đi về.
1. Cơm trắng ăn với chả chim
Chồng đẹp, vợ đẹp, những nhìn mà no
2. Cơm hẩm ăn với cà kho
Chồng xấu, vợ xấu những lo mà gầy.

1. Ai kêu, ai hú bên sông
Tôi đang sắm sửa cho chồng xuống ghe.
2. chồng xuống ghe, quạt che, tay ngoắt
Cất mái chèo, ruột thắt từng cơn
3. Đi đâu cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
1. Tay nâng khăn gói sang sông
Mồ hôi ướt đẫm, thương chồng phải theo.

1. Đôi ta là nghĩa tao khang,
Xuống khe bắt ốc, lên ngàn hái rau.

1. Ai làm cho cải tôi ngồng
Cho dưa tôi khú, cho chồng tôi chê
2. Chồng chê thì mặc chồng chê
Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ.

1. Vợ chồng là nghĩa già đời
Ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn.
1. Mẹ cha bú mớm, nâng niu
Tội trời đành chịu không yêu bằng chồng.

1. Chồng yêu cái tóc nên dài
Cái duyên nên đẹp, cái tài nên khôn.

1. Ớt nào là ớt chẳng cay
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
2. Vôi nào là vôi chẳng nồng
Gái nào là gái có chồng chẳng ghen.

1. Dốc bồ thương kẻ ăn đong
Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình.
1. Đốn cây ai nỡ đứt chồi
Đạo chồng, nghĩa vợ giận rồi lại thương.

1. Dẫu rằng da trắng, tóc mây
Đẹp thì đẹp vậy, dạ này không ưa
2. Vợ ta dù có quê mùa
Thì ta vẫn cứ sớm trưa vui cùng.

1. Một thuyền, một bến, một dây
Ngọt bùi chung hưởng, đắng cay chịu cùng.

1. Không thiêng cũng thể bụt nhà
Dầu khôn dầu dại cũng là chồng em.

1. Có chồng chẳng được đi đâu
Có con chẳng được đứng lâu nửa giờ.

1. Đôi bên bác mẹ cùng già
Lấy anh hay chữ để mà cậy trông
2. Mùa hè cho chí mùa đông
Mùa nào thức ấy cho chồng ra đi
3. Hết gạo thiếp lại gánh đi
Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao?
4. Hỏi thăm đến ngõ thì vào
Tay đặt gánh xuống, miệng chào: “thưa anh!”
1. Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
2. Nay anh học gần
Mai anh học xa
3. Tiền gạo thì của mẹ cha
Cái nghiên, cái bút thiệt là của em.

1. Vì chàng thiếp phải mò cua
Những như thân thiếp thì mua mấy đồng
2. Vì chàng thiếp phải long đong
Những như thân thiếp cũng xong một bề.
1. Tưởng rằng cây cả bóng cao
Em ghé mình vào trú nắng, trú mưa
2. Ai ngờ cây cả lá thưa
Ngày nắng rát mặt, ngày mưa ướt đầu.

1. Đố anh chừa được rượu tăm
Chừa ăn thuốc chín, chừa nằm chung hơi
2. Rượu tăm anh đã chừa rồi
Thuốc chín chừa được, chung hơi không chừa.
1. Thứ nhất vợ dại trong nhà
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn (*)
2. -Vợ dại thì đẻ con khôn
Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

1. Gái một con trông mòn con mắt
Gái hai con, con mắt liếc ngang
2. Ba con cổ ngẳng, răng vàng
Bốn con quần áo đi ngang khét mù.
3. Năm con tóc rối tổ cu
Sáu con yếm tụt, váy dù vặn ngang.

(*) còn có câu: Thứ nhất vợ dại trong nhà
Thứ nhì nhà dột, thứ ba nợ đời
1. Chưa chồng nón thúng quai thao
Chồng rồi nón rách, quai nào thì quai.
2. Chưa chồng yếm thắm đeo hoa
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành.

1. Chồng gì anh, vợ gì tôi?
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây
2. Mỗi người một nợ cầm tay
Đời xưa nợ vợ, đời nay nợ chồng.
1. Làm trai học sảy, học sàng
Đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn.

1. Làm trai rửa bát, quét nhà
Vợ gọi thì dạ, bẩm bà tôi đây.

1. Làm trai cho đáng nên chai
Ăn cơm với vợ lại nài cậy niêu
2. Con vợ nó cũng biết điều
Thắt lưng con cón cậy niêu với chồng.
1. Ngày nào anh bủng anh beo
Tay cất chén thuốc, tay đèo múi chanh.
2. Bây giờ anh khỏi, anh lành
Anh mê nhan sắc, anh tình phụ tôi!

1. Có bát sứ tình phụ bát đàn
Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày.

1. Khi chưa cầu, lụy trăm đàng
Được rồi thì lại phũ phàng làm ngơ.
1. Xin đừng thấy quế phụ hương
Quế già quế rụi, hương trường thơm xa.

1. Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.

1. Thế gian một vợ, một chồng
Chẳng như vua bếp hai ông một bà.

1. Anh kia có vợ con rồi
Mà sao còn muốn hoa hồi cầm tay.
2. Hoa hồi vừa đắng vừa gây
Vừa mặn như muối, vừa cay như gừng.
1. Đã thành gia thất thì thôi
Đèo bòng cho lắm tội trời ai mang?

1. Lấy chồng làm lẽ khổ thay!
Đi cấy, đi cầy, chị chẳng kể công
2. Đến tối chị giữ lấy chồng
Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài.
3. Sáng sáng chị gọi: bớ hai!
Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo
4. Bởi chưng bác mẹ tôi nghèo
Cho nên tôi phải đâm bèo, thái khoai.
1. Đói lòng ăn nắm lá sung
Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng
2. Một thuyền một lái chẳng xong
Một chĩnh đôi gáo còn nong tay vào.

1. Thân em làm lẽ chẳng hề
Có như chính thất mà lê giữa giường.
2. Tối tối chị giữ mất chồng
Chị cho manh chiếu nằm suông chuồng bò
3. Mong chồng, chồng chẳng xuống cho
Đến khi chồng xuống gà đã: “o… o” gáy dồn
4. Chém cha con gà kia sao mày vội gáy dồn?
Mày làm cho tao mất vía, kinh hồn về nỗi chồng con!
1. Lênh đênh chiếc bách giữa dòng
Thương thân góa bụa, phòng không lỡ thì.
2. Gió đưa cây trúc ngã quỳ
Ba năm trực tiết còn gì là xuân!

1. Chồng khôn vợ được đi hài
Vợ khôn chồng được nhiều bài cậy trông.

1. Khuyên chàng đọc sách, ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.

1. Vì tằm em phải chạy dâu
Vì chồng em phải qua cầu đắng cay.
1. Trách chàng ăn ở chấp chênh
Em như thuyền thúng lênh đênh giữa dòng
2. May ra trời lặng, nước trong
Chẳng may bão táp cực lòng thiếp thay
3. Công thiếp vò võ đêm ngày
Mà chàng ăn ở thế này chàng ôi!
4. Thiếp như hoa đã nở rồi
Xin chàng che lấy mặt trời cho tươi.

1. Vì chồng nên phải gắng công
Nào ai da sắt, xương đồng chi đây.
1. Một ngày ba bữa cơm đèn
Còn gì má phấn, răng đen hỡi chàng?

1. Một ngày ba bận trèo đèo
Vì ai vú xếch, lưng eo hỡi chàng?

1. Đem mình vào chốn sập vàng
Cả ăn, cả mặc lại càng cả lo
2. Đem mình vào chốn than tro
Đủ ăn, đủ mặc, đủ lo, đủ làm.
1. Chồng người thổi sáo, thổi tiêu
Chồng em ngồi bếp húp riêu bỏng mồm.

1. Lỗ mũi mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo: “tơ hồng trời cho”
2. Đêm nằm thì gáy: “o o”
Chồng yêu chồng bảo: “ngáy cho vui nhà”
3. Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo: “về nhà đỡ cơm”
4. Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo: “hoa thơm rắc đầu”.
1. Sáng ngày ra đứng cửa Đông
Xem một quẻ bói lộn chồng được chăng?
2. Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lộn thì lộn được nhưng năng phải đòn
3.- Mồ cha đứa có sợ đòn
Miễn là lấy được chồng giòn thì thôi!

1. Cái cò trắng bạch như vôi
Có ai lấy lẽ chú tôi thì về.
2. Chú tôi chẳng đánh, chẳng chê
Thím tôi móc ruột, lôi mề, ăn gan.
1. Mật ngọt rớt xuống thau đồng
Những lời anh nói cho lòng em say
2. Một trâu anh sắm đôi cày
Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!
3. Chàng ơi! chàng cho em ra
Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung!

1. Anh ơi cờ bạc nên chừa
Rượu cho anh uống, rượu mua anh đừng.

1. Áo vá vai vợ ai không biết
Áo vá quàng chí quyết vợ anh.
1. Bồng em đi dạo vườn dưa
Dưa đà có trái chị chưa có chồng.

1. Bướm vàng đậu đọt mù u
Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn.

1. Cá về chợ Dĩnh hết mong
Em về Đồng Tháp bỏ chồng cho ai?

1. Ghe bầu trở lái về đông
Làm thân con gái theo chồng nuôi con.

1. Giường lèo mà trải chiếu mây
Làm trai hai vợ như dây buộc mình.
1. Một cây tùng năm, bảy con thỏ leo chung
Biết làm sao đặng ở cùng với nhau.

1. Mưa sa lác đác gió tạt vô thành
Đôi ta chồng vợ, ai dỗ dành đừng xiêu.

1. Ở đời ba, bảy lần chồng
Miễn sao giữ được một lòng là hơn.

1. Rau răm đất cứng, khó bứng, dễ trồng
Dầu hay, dầu dở cũng chồng của em.

1. Rương xe, chìa khóa em cầm
Giang sơn em gánh, nợ nần em lo.
1. Thiếp xa chàng quên ăn, quên ngủ
Chàng xa thiếp thức đủ năm canh.

1. Thương chồng phải lụy cùng chồng
Đắng cay phải chịu, mặn nồng phải cam.

1. Trăm năm giữ vẹn chữ tòng
Sống sao thác vậy, một chồng mà thôi.

1. Trời dông chớp lạnh, mưa nguồn
Lấy chồng xứ lạ dạ buồn biết bao.

1. Khó nghèo củi núi, rau non
Nuôi cha, nuôi mẹ cho tròn nghĩa con.
1. Đói lòng ăn bát cháo môn
Để cơm nuôi mẹ cho tròn hiếu trung.

1. Gió mùa thu mẹ ru con nghủ
Năm canh chầy thức đủ năm canh.

1. Lên chùa thấy phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền.

1. Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy.

1. Ví dầu cầu ván đóng đanh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi
2. Ví dầu mẹ chẳng có chi
Chi con với mẹ chẳng khi nào rời.
1. Chẳng lo thân bậu thân qua
Lo chút mẹ già đầu bạc, tuổi cao.

1. Xiết bao bú mớm bù trì
Đến khi con lớn con đi lấy chồng.

1. Có con đỡ gánh đỡ gồng
Con đi lấy chồng vai gánh, tay mang.

1. Chiều chiều xách giỏ hái rau
Ngó lên mộ mẹ ruột đau như dần.

1. Ai về tôi gửi buồng cau
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy
2. Ai về tôi gửi đôi giầy
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
1. Ân cha nặng lắm ai ơi!
Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

1.Trách ai đặng cá quên nơm
Đặng chim bẻ ná, quên ơn sinh thành.

1. Tưởng rằng trong đạo mẹ cha
Con trai, con gái cũng là một thương.

1. Trai mà chi, gái mà chi
Sinh ra có ngãi có nghì là hơn.

1. Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
1. Cá chẳng ăn muối cá ươn
Con cưỡng cha mẹ, trăm đường con hư.

1. Có con phải khổ vì con
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.

1. Có cha có mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn không dây. (1)

1. Còn cha gót đỏ như son
Đến khi cha chết, gót con đen sì.

1. Cũng thì con mẹ, con cha
Con thì chín rưỡi, con ba mươi đồng.

(1). Có bản chép: không cha, không mẹ như đờn đứt dây
1. Mẹ già ở tấm lều tranh
Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con.

1. Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.

1. Vẳng nghe chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

1. Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.

1. Đói lòng ăn hột chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha, kính mẹ ấy là chân tu.

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Nhìn về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Dạy con, dạy thuở còn thơ
Dạy vợ, dạy thuở ban sơ mới về.

Chim trời ai dễ đếm lông
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày.

Có chồng mà chẳng có con
Khác chi hoa nở trên non một mình.
Có vàng, vàng chẳng hay phô
Có con, con nói trầm trồ mẹ nghe.

Anh đi làm mướn nuôi ai
Cho anh rách áo, cho vai anh mòn?
Anh đi làm mướn nuôi con
Áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai.

Nuôi con cho được vuông tròn
Mẹ thầy dầu dãi, xương mòn, gối long
Con ơi, cho trọn hiếu trung
Thảo ngay một dạ kẻo luống công mẹ thầy.
Công cha như núi Thái Sơn (1)
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Ngày nào em bé cỏn con
Bây giờ em đã lớn khôn thế này
Cơm cha, nghĩa mẹ, chữ thầy
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.

Mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi mẹ, kể tháng, kể ngày.

(1). Thái Sơn: tên một ngọn núi trong Ngũ Ngọc Sơn thuộc tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc)
Bốn con ngồi bốn chân giường
Mẹ ơi, mẹ hỡi, mẹ thương con nào?
Mẹ thương con bé mẹ thay
Thương thì thương vậy chẳng tày trưởng nam
Trưởng nam nào có gì đâu?
Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam.

Mẹ già hết gạo treo niêu
Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai.

Sống thì con chẳng cho ăn
Chết thì xôi thịt làm văn tế ruồi.
Con mẹ có thương mẹ đâu
Để cho chàng rể, nàng dâu thương cùng.

Chồng dữ thì em mới rầu
Mẹ chồng mà dữ, giết trâu ăn mừng.

Nghe đồn cha mẹ anh hiền
Cắn cơm không vỡ, cắn tiền vỡ đôi.

Mẹ anh năm lọc, bảy lừa
Mua cam phải quýt, mua dưa phải bầu
Mua kim mua phải lưỡi câu
Mua mật phải dầu cực lắm anh ơi!
Thật thà cũng thể lái trâu
Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.

Đói lòng ăn khế, ăn sung
Trông thấy mẹ chồng thì nuốt chẳng trôi.

Thương chồng phải khóc mụ gia (1)
Ngẫm tôi với mụ có bà con chi.

Cô kia đội áo đi đâu?
– Tôi là phận gái làm dâu mới về
Mẹ chồng ác nghiệt gớm ghê
Tôi ở chẳng được tôi về nhà tôi.

(1). Mụ gia: mẹ chồng
Từ khi em về làm dâu
Thì anh dặn bảo trước sau mọi lời:
Mẹ già dữ lắm em ơi!
Nhịn ăn, bớt ngủ mà nuôi mẹ già
Nhịn cho nên cửa, nên nhà
Nên kèo, nên cột, nên xà tầm vông
Nhịn cho nên vợ nên chồng
Thì em coi sóc lấy trong cửa nhà.

Dì ruột thương cháu như con
Rủi mà không mẹ cháu còn cậy trông.
Vợ chồng đầu gối má kề
Lòng nào mà bỏ mà về cho đang
Hồ về chân lại đá ngang
Về sao cho đứt cho đang mà về.

Anh em như chân với tay
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

Tưởng rằng chị ngã em nâng
Ai ngờ chị ngã em bưng miệng cười.

Anh em hiền thật là hiền
Bởi một đồng tiền làm mất lòng nhau.
Bưng được miệng chĩnh, miệng vò
Nào ai bưng được miệng o miệng gì.

Giầu sang nhiều kẻ đến nhà
Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau.

V. ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN VÀ TỆ NẠN XÃ HỘI

Áo rách chi lắm áo ơi!
Áo rách trăm mảnh không có nơi cho rận nằm.

Ăn mày là ai, ăn mày là ta
Đói cơm, rách áo thành ra ăn mày.

Cây khô xuống nước cũng khô
Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo.
Cực lòng nên phải biến dời
Biến dời lại gặp phải nơi cực lòng.

Gánh cực mà đổ nên non
Còng lưng mà chạy, cực còn theo sau.

Gạo chợ một tiền mười thưng
Mẹ con nhịn đói vì chưng không tiền.

Trời sao trời ở chẳng cân
Kẻ ăn không hết, người lần không ra.
Người thì mớ bảy, mớ ba
Người thì áo rách như là áo tơi.
Cả đời khốn khổ, chua cay
Ước ao có được một ngày làm vua.

Thân anh ba mươi mốt tuổi đầu
Vợ anh chưa có
Đêm nằm vò võ
Một xó giường không
Có cực hay không?
Có thảm hay không?
Người năm bảy vợ, người không vợ nào!
Trời xanh, muối trắng, cát vàng
Thứ gì cũng đẹp riêng nàng lầm than.

Chẳng làm người bảo rằng ươn
Làm thì xương sống, xương sườn phơi ra.

Giầu từ trong trứng giầu ra
Khó từ ngã bảy, ngã ba khó về.

Đã giầu thì lại giầu thêm
Đã khó thì khó cả đêm lẫn ngày.

Nhà mày lắm đất, lắm ao
Lắm trâu, lắm ruộng còn tao ăn gì?
Bốn bề công nợ eo sèo
Chỉ vì một nỗi tôi nghèo mà thôi
Tôi làm tôi chẳng có chơi
Nghèo đâu nghèo mãi trời ơi hỡi trời!

Khen ai khéo đặt nên nghèo
Kém ăn, kém mặc, kém điều không ngoan
Nhà giầu nói một hay mười
Nhà nghèo nói chẳng được lời nào khôn.
Mùa đông môi xám như chì
Mùa hè da sạm khác gì hòn than
Áo manh che trận gió hàn
Đầu trần, nắng lửa, mưa chan dãi dầu
Ối mẹ đâu, ối cha đâu
Đi đâu mà bắt con hầu người ta
Tưởng tình nghĩa mẹ, công cha
Chưa đền chút đỉnh xót xa dạ này.

Canh nông sớm tối ngoài đồng
Suốt ngày cặm cụi chổng mông lên trời
Bữa ăn như bữa vét nồi
Đói cào đói rã, mồ hôi ướt đầm
Sống gì sống tối, sống tăm
Khổ ngày, khổ tháng, khổ năm, khổ đời
Bắc thang lên hỏi ông trời
Cớ sao nỡ để kiếp người đắng cay?
Nhà nghèo như giỏ thủng trôn
Nhà giầu như bạc bỏ hòm xưa nay
Nghèo đâu nghèo mãi thế này
Mất chúng, mất bạn vì nay tội nghèo.

Con quan thì lại làm quan
Con nhà kẻ khó đốt than cả ngày.

Con vua thì lại làm vua
Con nhà kẻ khó bắt cua tối ngày.

Ếch kêu dưới vũng tre ngâm
Ếch kêu mặc ếch, tre dầm mặc tre.
Sinh con gặp phải buổi này
Bao giờ mở mặt, mở mày con ơi!

Cái phận nhà khó khổ thay
Ba năm giặt váy, gặp ngày trời mưa.

Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy tay không trở về.

Từ nay tôi cạch đến già
Tôi chẳng dám cấy ruộng bà nữa đâu
Ruộng bà vừa xấu vừa sâu
Vừa bé hạt thóc vừa lâu đồng tiền
Tôi về cấy ruộng quan điền
Bát gạo đã lớn, quan tiền trao tay.
Trời mưa cho ướt lá khoai
Công anh làm rể đã hai năm ròng
Nhà em lắm ruộng ngoài đồng
Bắt anh tát nước cực lòng anh thay
Tháng chín mưa bụi gió bay
Cất được gầu nước hai tay rụng rời.

Một ngày mấy lượt trèo non
Lấy gì làm đẹp, làm giòn hở anh?

Ngày nào trời nắng chang chang
Mẹ con đốn củi, đốt than no lòng
Trời làm một trận mênh mông
Mẹ con nhịn đói nằm không ba ngày.

Cấy lúa, lúa trổ ra năn
Kẻ trộm gặt mất con ăn bằng gì?
Con ăn lộc sắn, lộc si
Con ăn bằng gì cho đến tháng năm?
Thân ai khổ như thân rùa
Xuống sông đội đá, lên chùa đội bia
Thân ai khổ như thân anh kia
Ngày đi cuốc bãi, tối về nằm suông.

Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò to, nước lớn, mẹ mang con về
Mang về đến gốc bồ đề
Xoay sở hết nghề, mẹ bán con đi.
Cầm trâu, cầm áo, cầm khăn
Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em!

Đừng có chết mất thì thôi
Sống thì có lúc no xôi, chán chè.

Thấy anh em cũng muốn theo
Em sợ anh nghèo, anh bán em đi
Lấy anh em biết ăn gì
Lộc sắn thì chát, lộc si thì già
Lấy anh không cửa, không nhà
Không cha, không mẹ biết là cậy ai.
Tháng giêng
Tháng hai
Tháng ba
Tháng bốn
Tháng khốn, tháng nạn
Đi vay
Đi tạm
Được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên
Mua con gà mái
Về nuôi hắn đẻ ra mười trứng
Một cái trứng ung
Hai cái trứng ung
Ba cái trứng ung
Bốn cái trứng ung
Năm cái trứng ung
Sáu cái trứng ung
Bảy cái trứng ung
Còn ba cái trứng nở ra ba con:
Con – diều tha
Con – quạ bắt
Con – cắt lôi.
Chớ lo phận khó ai ơi
Còn da – lông mọc, còn chồi – nẩy cây.

Cái cò, cái vạc, cái nông
Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò?
Không, không tôi đứng trên bờ
Mẹ con cái diệc đổ ngờ cho tôi!
Không tin ông đến mà coi
Mẹ con cái diệc còn ngồi ở kia.
Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi! ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Cóc chết bỏ nhái mồ côi
Chẫu ngồi chẫu khóc: Chàng ơi là chàng!
Ễnh ương đánh lệnh đã vang
Tiền đâu mà trả nợ làng ngốc ơi!
Con cò chết tối hôm qua
Có một hạt gạo với ba đồng tiền
Một đồng mua trống, mua kèn
Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong
Một đồng mua mớ rau rong
Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

Cái cò mày mổ cái tôm
Cái tôm quắp lại, lại ôm cái cò
Cái cò mày mổ cái trai
Cái trai quắp lại, lại nhai cái cò.
Con cò mắc giò mà chết (1)
Con quạ ở nhà mua nếp làm chay
Con cu đánh trống bằng tay
Chào mào đội mũ làm thầy đọc văn
Chiền chiện vừa khóc, vừa lăn
Một bầy se sẻ bịt khăn cho cò.

Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cộc leo ra leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cộc leo vào leo ra.

(1). Giò: tên một loại bẫy dùng để bẫy chim, cò.
Bao giờ cho đến tháng ba
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười
Con gà, be rượu nuốt người lao đao
Lươn nằm cho trúm bò vào
Một đàn cào cào đi bắt cá rô
Thóc giống đuổi chuột trong bồ
Đòng đong, cân cấn đuổi cò ngoài ao.
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng, khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng!

Tò vò mà nuôi con nhện
Đến khi nó lớn, nó quện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti
Nhện ơi, nhện hỡi! nhện đi đằng nào?
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cụt leo ra leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cụt leo vào leo ra.

Ngày đi trúc chửa mọc măng
Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre
Ngày đi lúa chửa chia vè
Ngày về lúa đã đỏ hoe đầy đồng
Ngày đi em chửa có chồng
Ngày về em đã con bồng con mang

Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
– Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
Ở nhà có nhớ anh chăng?
Để anh kể nỗi Cao Bằng mà nghe.
Lính vua, lính chúa, lính làng
Nhà vua bắt lính cho chàng phải ra
Giá vua bắt lính đàn bà
Để em đi đỡ anh vài bốn năm
Bởi vua bắt lính đàn ông
Tiền lưng, gạo bị sắm trong nhà này.

Nhà vua bắt lính đàn ông
Mười sáu tuổi rưỡi đứng trong công đường
Ai trông thấy lính chả thương
Đứng trong công đường nước mắt như mưa.

Anh đi lưu trú Bắc Thành
Để em khô héo như nhành từ bi.

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan
Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai !
Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng?
Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón đấu, vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Tùng tùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Chàng ơi, đi trẩy kẻo trưa
Cửa nhà cậy mẹ, nắng mưa nhờ trời
Em đi cầu khấn Phật trời
Biết than cùng trời, biết thở cùng ai!

Trời ơi, sinh giặc làm chi!
Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường!

Tiếng ai than khóc nỉ non
Hay vợ chú lính trèo hòn Cù Mông?

Chém cha cái giặc, chết hoang
Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng
Gánh từ xứ Bắc, xứ Đông
Đã gánh theo chồng lại gánh theo con.

Thương nàng đã đến tháng sinh
Ăn ở một mình trông cậy vào ai?
Rồi khi sinh gái, sinh trai
Sớm khuya, mưa nắng lấy ai bạn cùng?
– Sinh gái thì em gả chồng
Sinh trai lấy vợ mặc lòng thiếp lo.

Trời mưa cho lúa thêm bông
Cho nước thêm cá, cho sông thêm thuyền
Cho dù, cho lọng gãy then,
Cho võng, cho cáng một phen nhuộm bùn.

Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa
– Bao giờ dân nổi can qua
Con vua thất thế lại ra quét chùa.

Con vua lấy thằng bán than
Nó đưa lên ngàn cũng phải đi theo
Con quan đô đốc, đô đài
Lấy thằng thuyền chài cũng phải lụy mui.

Vua Lê ba mươi sáu tàn vàng
Thấy gái đi đàng, ngó ngó nom nom
Cô nào óng ả, son son
Vua đóng cũi hòm, đem trẩy về kinh.

Ra đường mắt mải nhìn anh
Để chân anh vấp đổ thành nhà vua.

Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy quận vào rờ chánh cung (1)

(1). Chỉ việc Đặng Thị Huệ vợ chúa Trịnh Sâm tư thông với Huy quận công Hoàng Đình Bào.

Đục cùn thì giữ lấy tông
Đục long, cán gãy còn mong nỗi gì (1)

Làng Vạc ăn cỗ ông Nghè (2)
Làng Vận, làng Chè kéo đá ông Đăng (3)

(1). Tông: chỉ Trịnh Tông (tức Trịnh Khải), Cán: chỉ Trịnh Cán – đều là con của Trịnh Sâm. Trịnh Sâm đã phế bỏ con cả là Trịnh Tông (con Dương Thái phi) lập con thứ là Trịnh Cán (con Đặng Tuyên phi) làm thế tử, gây ra cuộc tranh giành ngôi vị giữa Tông và Cán.
(2). Làng Vạc: Làng Cổ Đô, xã Thiêu Đô, làng Vận là làng Vận Quy, làng Chè là lảng Trà Phượng, tất cả đều thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
(3). Ông Đăng: Đăng quận công Nguyễn Khải, đời Lê Mạt, bắt nhân dân Thanh Hóa kéo đá xây sinh tự, làng Vạc có người đỗ đạt được coi là đất nhà quan không phải đi phu, còn hai làng Vận, làng Chè không có người đỗ đạt phải phục dịch rất vất vả.

Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng
Bao giờ gánh đá ông Đăng cho rồi?
Cơm ăn mỗi bữa một vơi
Bao giờ gánh đá cho rồi ông Đăng?

Nhất nhì bộ Lại, bộ Binh
Nhì thì bộ Hộ, bộ Hình cũng xong
Thứ ba thì đến bộ Công
Nhược bằng bộ Lễ, lậy ông xin về (1)

(1). Xưa kia làm quan bộ Lại có diều kiện bóc lột nhân dân bằng các bộ Lại, bộ Binh, v. v… nên bọn quan lại đều không muốn bổ nhiệm vào bộ Lễ.

Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi.

Quan văn mất một đồng tiền
Xem bằng quan võ mất quyền quận công.

Trâu buộc thì ghét trâu ăn
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

Tậu voi chung với Đức Ông
Vừa phải đánh cồng, vừa phải hót phân.

Ra đường võng giá nghênh ngang
Về nhà hỏi vợ: cám rang đâu mày?
– Cám rang tôi để cối xay
Hễ chó ăn mất thì mày với ông!

Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè
Ông Nghè sai lính ra ve
– Trăm lậy ông Nghè , tôi đã có con
– Có con thì mặc có con
Thắt lưng cho giòn mà lấy chồng quan.

Đàn ông quan tắt thì chầy
Đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan.

Đất đâu đất lạ đất lùng
Đi làm lại có thổ công ngồi bờ?
Thổ công không có người thờ
Cho nên mới phải vẩn vơ ngoài đồng. (1)

(1). Câu này nhằm đả kích bọn địa chủ ngồi ở đầu bờ để ốp người làm công.

Con ơi! nhớ lấy câu này:
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan!

Ruộng bà, bà đứng bà trông
Thì tôi cũng cấy hàng sông bằng thuyền
Bà về thêm gạo, thêm tiền
Thì tôi mới cấy cho liền hàng tay. (1)

(1). Bài này và một số bài tiếp sau đây phản ánh một hình thức đấu tranh
với bọn địa chủ, đòi tăng tiền công của những người nông dân đi làm thuê.
(2). Hàng sông: Khoảng cách giữa những hàng lúa.
(3). Hàng tay: khoảng cách giữa những cây lúa theo chiều ngang. Cấy hàng sông theo thuyền ý nói là cấy rất thưa thì người cấy tốn ít công, còn chủ ruộng thì thu hoạch được ít thóc.

Bớt đồng thì bớt cù lao
Bớt ăn, bớt uống thì tao bớt làm (1).

Người sao kẻ quạt, người hầu
Người sao nắng dãi, mưa dầu long đong?

Con làm con ở cùng bà,
Vang mình sốt mẩy con ra ngoài đường.

(1). Cù lao: khó nhọc

Người sao kiệu bạc ngai, vàng,
Người sao cuối chợ đầu làng kêu ca?
Người sao đệm thảm, chiếu hoa,
Người sao ngồi đất lê la suốt ngày?
Người sao chăn đắp, màn quây,
Người sao trần trụi thân thây bẽ bàng?
Người sao võng giá nghênh ngang,
Người sao đầu đội vai mang nặng nề?
Người sao năm thiếp bảy thê,
Người sao côi cút,sớm khuya chịu sầu?
Người sao kẻ quạt, người hầu,
Người sao nắng dãi, mưa dầu long đong?

Cơm cha cơm mẹ đã từng,
Con đi làm mướn kiếm lưng cơm người.
Cơm người khổ lắm, mẹ ơi!
Chẳng như cơm mẹ vừa ngồi vừa ăn.

Cậu cai buông áo em ra
Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa
Chợ trưa rau nó héo đi
Lấy gì nuôi mẹ, lấy gì nuôi con.

Em là con gái cửa dinh,
Qua dinh cụ lớn, cụ rình cụ nom
Của em chẳng để ai dòm
Cáo già hết ngó, mèo con cũng chừa.

Đồn rằng quan trạng có danh
Cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai
Vua khen quan tướng có tài
Ban cho cái áo với hai đồng tiền
Đánh giặc thì chạy trước tiên
Xông ra trận tiền cởi khố giặc ra
Giặc sợ, giặc chạy về nhà
Trở về gọi mẹ mổ gà khao quân.

Sang chơi thì cứ mà sang
Đừng bắt dọn đàng mà nhọc lòng dân.

Ban ngày quan lớn như thần
Ban đêm quan lớn tần ngần như ma.

Người trên ở chẳng chính ngôi
Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào
Người trên ở chẳng được cao
Khiến cho kẻ dưới lộn nhào lên trên.

Nên ra trên kính dưới nhường
Chẳng nên đạp hắt bên đường mà đi.

Sông Hương nước chảy lờ đờ
Dưới sông có đĩ, trên bờ có vua.

Phá đền rồi lại làm đền
Nào ai cướp nước, tranh quyền chi ai!
Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong sao lại chảy hoài?
Thương người xa xứ lạc loài đến đây. (*)

(*). Nguyễn Ánh sau khi lên làm vua đã phá hủy một số đền đài, di tích cũ và bắt nhân dân đi phu xây dựng cung điện mới nên đã bị nhân dân ca thán.

Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì phải lột quần chồng sao đang!
Có quần ra quán bán hàng
Không quần ra đứng đầu làng trông quan. (*)

(*). Theo “Minh Mệnh chính yếu” thì năm Minh Mạng thứ 8 (1828) có đạo dụ bắt thay đổi quần áo. Đến năm Minh Mệnh thứ 18 (1838) lại bắt thay đổi ráo riết hơn.

Từ ngày Tự Đức lên ngôi. (*)
Cơm chẳng đầy nồi, trẻ khóc như ri
Bao giờ Tự Đức chết đi
Thiên hạ bình thì, lại dễ làm ăn.

(*). Tự Đức: Tức Nguyễn Hồng Nhậm (Đức Tông) lên ngôi năm 1848 là ngôi vua thứ tư của triều Nguyễn.

Anh ham xóc đĩa, cò quay
Máu mê cờ bạc lại hay rượu chè
Eo sèo công nợ tứ bề
Kẻ lôi, người kéo, ê hề lắm thay!
Nợ nần, em trả, chàng vay
Kiếp em là kiếp kéo cày đứt hơi!

Cờ bạc nó đã khinh anh
Áo quần bán hết, một manh chẳng còn.
Gió đông nam chui vào đống rạ
Hở mông ra cho quạ nó lôi
Anh còn cờ bạc nữa thôi?

Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà.

Chồng đánh bạc, vợ đánh bài
Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng!

Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm.

Mồ cha con bướm khôn ngoan
Hoa thơm bướm đậu, hoa tàn bướm bay.

Chữ trinh đáng giá nghìn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
Còn như yêu vụng nhớ thầm
Họp chợ trên bụng đến trăm con người!

Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh chồng đi chơi
Chẳng may quang đứt, lọ rơi
Bò ra lổm ngổm, chín nơi chín chồng.

Gái đâu có gái lạ đời
Chỉ trừ có mỗi ông Trời không chim.

Chém cha cái nước sông Bờ
Tưởng rằng báng nước, ai ngờ báng con.

Trăng lên lu lú đầu non
Số em là số sớm con, muộn chồng.

Phềnh phềnh lớn giữa lớn ra
Mẹ ơi con chẳng ở nhà được đâu
Ở nhà làng bắt mất trâu
Cho nên con phải đâm đầu ra đi.

Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian đã thường!

Phù thủy, thầy bói, lái trâu
Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn. (*)

(*). Còn có câu:
Lái trâu, lái lợn, lái bè
Ba anh lái ấy chớ nghe anh nào.

Trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng
Lấy ai thì lấy, tơ hồng nào xe?

Trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng
Yêu ai thì bế thì bồng trên tay!

Ngồi buồn đốt một đống rơm
Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào
Khói lên đến tận Thiên Tào
Ngọc Hoàng phán hỏi: thằng nào đốt rơm?

Tiền buộc dải yếm bo bo
Trao cho thầy bói, đâm lo vào mình.

Thầy bói xem bói cho người
Số thầy thì để cho ruồi nó bâu.

Số cô chẳng giầu thì nghèo
Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà.
Số cô có mẹ, có cha
Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông
Số cô có vợ có chồng
Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.

Cốc cốc, lai lai!
Thịt gà xé hai
Thầy mần miếng một
Cơm mà sốt sốt
Thầy mần tám lưng
Con mắt trập trừng
Thầy vơ cả đĩa.

Chập chập thôi lại cheng cheng
Con gà sống thiến để riêng cho thầy
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm vơi thì thánh nhà thầy mất thiêng.

Thầy cúng ngồi cạnh giường thờ
Mồm thì lẩm bẩm, tay sờ đĩa xôi.

Hòn đất mà biết nói năng
Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn

Của bụt mất một đền mười
Bụt hãy còn cười, bụt chả lấy cho.

Nam mô một bồ dao găm
Một trăm dao mác
Một vác dao bầu
Một xâu thịt chó…

Thầy thiếp là thầy thiếp ơi! (1)
Nay chuông, mai trống cho tôi động lòng
Bốn con tôi để cho chồng
Tôi theo thầy thiếp, cực lòng tôi thay!

(1). Thầy thiếp: người làm nghề mê tín đánh đồng thiếp đi tìm linh hồn người đã chết.

Khăn chầu, áo ngự xênh xang
Lẳng lơ mấy khúc tình tang, tang tình
Nhác trông lên thấy cô mình
Múa may, nhảy nhót, rập rình với chú cung văn.

Trên chùa có tiểu mười ba
Sư ông mười bốn, vãi già mười lăm
Muốn cho một tháng đôi rằm
Trước là lễ Phật, sau thăm vãi già.

Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sư sầu
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây?
Sông Mơ, sông Mận, sông Đào
Ba con sông ấy chảy vào tuần ty
Em trót yêu anh bụng đã phát phì
Thuốc thang đâu khỏi anh thì bảo tôi
Trót yêu anh dễ đứng, khó ngồi.

Con sâu làm rầu nồi canh
Một người làm đĩ hổ danh đàn bà.

Em là con gái Phủ Từ
Lộn chồng trả của, theo sư chùa Viềng. (*)

(*). Phủ Từ: phủ Từ Sơn thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Viềng: tên
một làng trong huyện.

Đói ăn thịt chó nấu giềng
Bán rao mảnh đất lấy tiền nộp cheo
Dù còn thiếu thốn bao nhiêu
Xin làng đừng có cắm nêu ruộng chùa.

Đẻ đứa con trai
Chẳng biết nó giống ai
Cái mắt thì giống ông cai
Cái đầu ông xã, cái tai ông trùm.

Tiểu tôi, tiểu kính tiểu hiền
Bao nhiêu chùa chiền tiểu đốt tiểu đi
Thịt chó tiểu đánh tì tì
Bao nhiêu chỗ lội tiểu thì cắm chông
Nam mô xứ Bắc, xứ Đông
Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.

Người ta đi giáo tiền, giáo gạo
Tiểu tôi đi giáo áo, giáo nồi
Nhà nào công đức thì thôi
Nhà nào đi vắng tiểu tôi giáo bò.

Thấy cô yếm trắng, răng đen
Nam mô di phật lại quên mất chùa
Ai mua tiu cảnh thì mua
Thanh la, não bạt, thầy chùa bán cho
Hộ pháp là một quan ba
Long thần chín rưỡi, Thích Ca ba tiền
Còn hai mụ Thiện hai bên
Ai mua bán nốt lấy tiền nộp cheo
Lệ làng thiếu thốn bao nhiêu
Đẵn cây tre cộc cắm nêu sân chùa.

Cái dùi sơn son
Cái mõ sơn son
Ông sư, bà vãi có con rõ ràng!

Sư đang tụng niệm nam mô
Thấy cô cắp giỏ mò cua bên chùa
Lòng sư luống những mơ hồ
Bỏ kinh, bỏ kệ, tìm cô hỏi chào
Ai ngờ cô đi đằng nào
Tay lần tràng hạt , ra vào ngẩn ngơ…

Trai tứ chiếng, gái giang hồ
Gặp nhau mà nổi cơ đồ cũng nên.

Bươm bướm mà đậu cành hồng
Đã yêu con chị còn bồng con em.

Con chim ăn quả bồ nu
Ai làm nên nỗi thầy tu đeo xiềng?
Thầy tu ăn nói cà riềng (*)
Em thưa quan cả đóng xiềng thầy tu.

(*). Ăn nói cà riềng: ăn nói tục tĩu, bậy bạ, xỏ xiên.

Người ta câu bể, câu sông
Tôi đây câu lấy con ông, cháu bà
Có chồng thì nhả mồi ra
Không chồng em cắn, em tha lấy mồi.

Cái cò là cái cò quăm
Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai?
– Có đánh thì đánh sớm mai
Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm!

Năm quan tiền tốt bó mo
Làm tờ ký chỉ, chị cho chuộc chồng
Măng non nấu với gà đồng
Chơi nhau một trận xem chồng về ai?
Già gan cướp được chồng người
Non gan hết vía rụng rời chân tay!

Em như một đóa hoa đào
Mẹ cha muốn phước bắt vào nhà tu
Trăm nghìn lạy chúa Giê Su
Nhà tu đừng hóa nhà tù giam em.

Muốn ăn đậu phụ, tương Tàu
Mài dao, đánh kéo gọt đầu đi tu
Mồm thì tụng niêm nam mô
Miệng thì rượu thịt lu bù sớm hôm.

Một tay gõ mõ, gõ chuông
Một tay bóp vú cô nàng nghe kinh.

Nam mô đức Phật Quan Âm
Bao nhiêu vãi mầm thì lấy tiểu tôi.

Vợ sư sắm sửa cho sư
Áo nâu, tràng hạt, mũ lu tày giành
Để sư sướng kiếp tu hành!

Con ai đem bỏ chùa này
Nam mô di Phật, con thầy thầy nuôi.

Sư đi chùa mốc, sân rêu
Mõ khuya ai gõ, chuông chiều ai khua
Vinh hoa là cái trò đùa
Đã tu không trót lại mua trò cười.

VI. NHẬN ĐỊNH VỀ CON NGƯỜI VÀ VIỆC ĐỜI

Đố ai lặn xuống vực sâu
Mà đo miệng cá, uốn câu cho vừa.

Sông sâu còn có kẻ dò
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

Đố ai lượm đá quăng trời
Đan gầu tát biển, ghẹo người cung trăng.

Trăng mờ còn tỏ hơn sao
Dẫu rằng núi lở còn cao hơn đồi.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng.

Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Làm trai quyết chí tang bồng
Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam.

Làm trai cho chí nên trai
Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.
Khi nên trời giúp công cho
Làm trai năm liệu bảy lo mới hào
Trời sinh trời chẳng phụ nào
Phong vận gặp hội anh hào ra tay
Trí khôn rắp để dạ này
Có công mài sắc có ngày nên kim.

Trăm năm lòng gắn, dạ ghi
Dẫu ai đem bạc đổi chì mặc ai.

Trăm năm ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.

Ai ơi, giữ chí cho bền
Dù ai xoay hướng, đổi nền mặc ai.

Làm người suy chín xét xa
Cho tường gốc, ngọn, cho ra vắn dài.

Dù ai nói đông, nói tây
Lòng ta vẫn vững như cây giữa rừng
Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.

Chớ thấy sóng cả mà lo
Sóng cả mặc sóng, chèo cho có chừng (1)
Làm người phải đắn, phải đo
Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu (2).

(1). còn có câu:
Chớ thấy bể rộng mà lo
Bể rộng mặc bể, chèo cho có ngần.
(2). Còn có câu:
Người khôn chưa đắn đã đo
Chưa đi đến bể đã dò nông sâu

Làm người mà chẳng biết suy
Đến khi nghĩ lại còn gì là thân.

Làm người ăn tối lo mai
Việc mình hồ dễ để ai lo lường.

Chim khôn tránh bẫy, tránh giò
Người khôn tránh kẻ hồ đồ mới khôn.

Ra vời mới biết nông sâu
Ở trong lạch hói biết đâu mà dò.

Non cao cũng có đường trèo
Đường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi.

Nước lã mà vã nên hồ
Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

Cây cao thì gió càng lay
Càng cao danh vọng, càng dày gian truân.

Hoa sen mọc bãi cát lầm
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa
Tiếng lành, tiếng dữ đồn ba ngày đường.

Chỉ đâu mà buộc ngang trời
Tay đâu mà bịt miệng người thế gian. (*)

Thế gian chẳng ít thì nhiều
Không dưng ai dễ đặt điều cho ai.

(*). Còn có câu:

Chỉ đâu mà buộc ngang trời
Thuốc đâu mà chữa cho người lẳng lơ.

Rừng có mạch, vách có tai
Kẻ trong chưa tỏ, người ngoài đã hay.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay, giần sàng. (*)

(*). Còn có câu:

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng

Thói thường gần mực thì đen
Anh em bạn hữu phải nên chọn người
Những người lêu lổng, chơi bời
Cùng là lười biếng ta thời tránh xa.

Đời người có một gang tay
Những ai ngủ ngày còn được nửa gang.

Giầu đâu đến kẻ ngủ trưa!
Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày!

Ăn được, ngủ được là tiên
Không ăn, không ngủ, mất tiền thêm lo.

Vì sông nên phải lụy thuyền
Những như đường liền ai phải lụy ai?

Nói lời thì giữ lấy lời
Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

Rượu nhạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.

Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Ở nhà nhất mẹ, nhì con
Ra đường lắm kẻ còn giòn hơn ta.

Ai ơi chớ vội cười nhau
Ngẫm mình cho kỹ trước sau hãy cười.

Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau người cười.

Lươn ngắn lại chê trạch dài
Thờn bơn méo miệng, chê trai lệch mồm.

Chuột chù chê khỉ rằng hôi
Khỉ mới trả lời: “cả họ mày thơm”.

Chì khoe chì nặng hơn đồng
Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chiêng?

Vàng thì thử lửa, thử than
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Cớ sao trăng lại chịu luồn đám mây?

Khôn ngoan chẳng lọ là nhiều
Người khôn mới nói nửa điều đã khôn.

Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo cỗ lòng mới ngon.

Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con
Những người béo trục, béo tròn
Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngày.

Những người con mắt lá răm
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Người xấu duyên lặn vào trong
Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài.

Rượu ngon bất luận be sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

Thức lâu mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết là người có nhân.

Mật ngọt càng tổ chết ruồi
Những nơi cay đắng là nơi thật thà.

Đàn đâu mà gảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi.

Dã tràng xe cát biển Đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.

Cây cao, bóng mát không ngồi
Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mưa.

Cầm vàng mà lội qua sông
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng.

Từ rày buộc chỉ cổ tay
Chim đậu thì bắn, chim bay thì đừng!

Đi đâu mà vội mà vàng
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây
Thủng thẳng như chúng em đây
Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào quàng.

Vào rừng chẳng biết lối ra
Thấy cây núc nác ngỡ là vàng tâm
Đi đâu mà vội mà lầm
Núc nác thì nổi, vàng tâm thì chìm.

Khi vui non nước cùng vui
Khi buồn sáo thổi, kèn đôi cũng buồn.

Trời còn khi nắng khi mưa
Ngày còn khi sớm, khi trưa, nữa người.

Xưa nay thế thái, nhân tình
Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.

Yêu ai thì nói quá ưa
Ghét ai nói thiếu, nói thừa như không.

Yêu nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

Yêu nhau vạn sự chẳng nể
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho vừa. (*)

(*). Có bản chép:
Yêu nhau mọi việc chẳng nề
Dù trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng

Thương thì củ ấu cũng tròn
Không thương thì củ bồ hòn cũng vuông.

Năng mưa thì tốt lúa vườn
Năng đi năng lại coi thường nhau ra.

Càng thắm thì lại càng phai
Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu.

Cái vòng danh lợi cong cong
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào.

Cá trong lờ đỏ hoe con mắt
Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô
Tung tăng như cá trong lờ
Trong ra không được, ngoài ngờ là vui.

Đồng tiền không phấn, không hồ
Sao mà khéo điểm, khéo tô mặt người.

Ai về nhắn với ông câu
Cá ăn thì giật để lâu mất mồi.

Áo dài chẳng nệ quần thưa
Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm.

Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái không tìm chồng giữa chốn ba quân.

Thế gian còn dại chưa khôn
Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành.

Hãy cho bền chí câu cua
Dù ai câu trạch, câu rùa mặc ai.

Lòng ta ta đã chắc rồi
Dù ai giục đứng giục ngồi chớ nao.

Nói chín thì nên làm mười
Nói mười làm chín kẻ cười người chê.

Nên ra tay kiếm tay cờ
Chẳng nên thì chớ đừng nhờ cậy ai.

Người ta hữu tử hữu sanh (sinh)
Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.

Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

Bạn bè là nghĩa tương tri
Sao cho sau trước một bề mới nên.

Ở đời phải phải phân phân
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.

Trọng người người lại trọng thân
Khinh đi khinh lại như lần trôn quang.

Tranh quyền, cướp nước chi đây
Coi nhau như bát nước đầy là hơn.

Đi cho biết đó, biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.

Nói người phải ngẫm đến ta
Thử sờ lên gáy xem xa hay gần.
Nói người phải ngẫm đến thân
Thử sờ lên gáy xem gần hay xa.

Nứơc trong khe suối chảy ra
Mình chê nước đục, mình đà trong chưa?

Ông thánh còn có khi lầm
Huống hồ bà lão tám nhăm tuổi đầu.

Ngồi buồn kể ruốc nhau ra
Ruốc ông thì thối, ruốc bà thì thơm.

Có đỏ mà chẳng có thơm
Như hoa râm bụt, nên cơm cháo gì?

Thế gian họ nói không lầm
Lụa tuy vóc trắng, vụng cầm cũng đen.

Người gian thì sợ người ngay
Người ngay chẳng sợ đường cày khúc khuyu.

Đừng khôn ngoan, chớ vụng về
Đừng cho ai lận, chớ hề lận ai. (*)

Chớ nghe lời phỉnh, tiếng phờ
Thò tay vào lờ, mắc kẹt cái hom.

(*). Còn có câu:
Khôn ngoan ba chốn, bốn bề
Đừng cho ai lấn, chớ hề lấn ai.

Măng chua nấu cá ngạnh nguồn
Sự đời đắp đổi, khi buồn khi vui.

Yêu nhau xé lụa may quần
Ghét nhau kể nợ, kể nần nhau ra.

Cậy tài, cậy khéo, khoe không
Đừng có cậy của đa ngôn quá lời
Của thì mặc của ai ơi
Đừng có cậy của coi người như rơm.

Nghèo nhân, nghèo nghĩa thì lo
Nghèo tiền, nghèo bạc chớ cho là nghèo!

Sông sâu nước chảy đá mòn
Của kia ăn hết, nghĩa còn ghi xương.

Ai ơi cứ ở cho lành
Tu nhân tích đức để dành về sau.

Muốn no thì phải chăm làm
Một hạt thóc vàng, chín hạt mồ hôi.

Của đời cha mẹ để cho
Làm không, ăn có, của kho cũng rồi.

Đói thì đầu gối phải bò
Cái chân hay chạy, cái dò hay đi.

Ai ơi chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành.

Khi giầu chẳng có đỡ ai
Đến khi hoạn nạn chẳng ai đỡ mình.

Ở sao cho toại lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.

Vay chín thì trả cả mười
Phòng khi túng lỡ có người cho vay.

Trách người một, trách ta mười
Bởi ta bạc trước, cho người tệ sau.

Nghèo thì dễ ở, dễ ăn
Giầu thì cửa ngáng, cửa ngăn khó vào.

Giầu người ta chẳng có tham
Khó thì ta liệu, ta làm ta ăn.

Thà rằng ăn bát cơm rau
Còn hơn cá thịt nói nhau nặng lời.

Có cây mới có dây leo
Có cột, có kèo mới có đòn tay.

Lúc khó thì chẳng ai màng
Làm nên quan lớn chán vàn người yêu.

Lúc nghèo thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.

Có tiền chán vạn người hầu
Có bấc có dầu, chán vạn người khêu.

Giầu cha giầu mẹ thì mừng
Giầu cô, giầu bác thì đừng có trông.

Khó mà biết lẽ, biết lời
Biết ăn, biết ở hơn người giầu sang.

Ăn nhiều thì hết miếng ngon
Nói nhiều thì hết lời khôn hóa rồ.

Thói đời hay chuộng bề ngoài
Nào ai, ai đã biết ai hơn nào.

Ai ơi gương bể (vỡ) khó hàn
Chỉ đứt khó nối, người ngoan khó tìm.

Nước trong ai chẳng rửa chân
Hoa thơm ai chẳng tới gần gốc cây.

Thà rằng ăn nửa quả hồng
Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè.

Đừng tham của rẻ, của ôi
Những của đầy nồi là của chẳng ngon.

Chim khôn nói tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Hoa thơm ai dễ bỏ rơi
Người khôn ai nỡ nặng lời với ai.

Hoa thơm ai chẳng nâng niu
Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.

Khôn thì trong trí lượng ra
Dại thì học lỏm người ta bề ngoài.

Người khôn ăn miếng thịt gà
Tuy rằng ăn ít nhưng mà ngon lâu
Người dại ăn trái bồ câu
Ăn no bĩnh bầu chẳng biết mùi ngon.

Em ơi, anh dặn em này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi.

Thương nhau nước đục cũng trong
Ghét nhau nước chảy giữa dòng cũng dơ.

Gừng già, gừng rụi, gừng cay
Anh hùng càng cực, càng dầy nghĩa nhân.

Đem chuông đi đấm nước người
Chẳng kêu cũng đấm ba hồi lấy danh.

Sự đời nước mắt soi gương
Càng yêu nhau lắm càng thương nhớ nhiều. (*)

Ngựa mạnh chẳng quản đường dài
Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng.

(*). Còn có câu:
Trời sinh con mắt là gương
Người ghét ngó ít, người thương ngó nhiều.

Bị rách nhưng lại có vàng
Tuy rằng miếu đổ thành hoàng còn thiêng.

Sự đời nghĩ cũng nực cười
Một con cá lội, mấy người buông câu.

Kinh đô cũng có người rồ
Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên.

Ăn rươi chịu bão cho cam
Không ăn chịu bão, thế gian cũng nhiều.

Thứ nhất là tu tại gia
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.

Muốn may thì phải có kim
Muốn hay thì ắt phải tìm người xưa.

Làm trai đi biển, đi sông
Vào đây gặp bãi cát nông mà buồn.

Làm trai chí ở cho bền
Đừng lo muộn vợ, chớ phiền muộn con.

Làm trai cho đáng nên trai
Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên.

Thương thay con cuốc giữa trời
Dẫu kêu ra máu có người nào hay.

Gỗ trắc đem lót ván cầu
Yến sào đem nấu với đầu cá rô.

Một mâm có mấy đĩa ngon
Dì ghẻ ních hết để con nhịn thèm.

Cơm ăn ba bữa thì cho
Gạo mượn sét chén xách mo dì đòi.

Đò dọc phải tránh đò ngang
Ngụ cư phải tránh dân làng cho xa.

Lụt nguồn trôi trái lòn bon
Cha chết mẹ còn chịu cảnh mồ côi.

Canh bầu nấu với cá trê
Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

Một ngày ở với người khôn
Cũng như cá vượt Vũ môn hóa rồng.

Thuyền rồng chở lá mù u
Người khôn ở với người ngu bực mình.

Có bột mới quấy nên hồ
Có vôi, có gạch mới tô nên nhà.

Chẳng lo bán ế chợ ròng
Khách năng qua lại, đói lòng phải mua.

Được mùa chê gạo vô hơi
Mất mùa ăn cám trời ơi, hỡi trời.

Không cha có chú ai ơi
Thay mặt, đổi lời chú cũng như cha.

Đừng thấy miếu rách mà khinh
Miếu rách mặc miếu, thần linh hãy còn.

Chẻ tre lựa cật đan nia
Có chồng con một, khỏi chia gia tài.

Có con hơn của anh ơi
Của như buổi chợ họp rồi lại tan.

Đói cơm hơn kẻ no rau
Nghèo mà quân tử hơn giầu tiểu nhân.

Chim quyên xuống đất cùng quyên
Anh hùng lỡ vận vẫn nguyên anh hùng.

Ngán thay sửa dép vườn dưa
Dù ngay cho mấy cũng ngờ rằng gian.

Chẳng lo chi đó cười đây
Bão rồi mới biết cội cây cứng mềm.

Gió day thì mặc gió day
Xin cho cây cứng, lá dày thì thôi.

Chữ rằng: họa phúc vô môn
Tìm giầu thì dễ, tìm khôn khó tìm.

Không ham bịch lúa anh đầy
Tham ba hàng chữ làm thầy thế gian.

Tham vàng phụ ngãi ai ơi
Vàng thời đã hết ngãi tôi vẫn còn.

Ai ơi đừng phụ mụt măng
Mụt măng có nhỏ cũng bằng cây tre.

Nhịn miệng tiếp khách đường xa
Cũng bằng gửi của chồng ta ăn đường.

Chim bay mỏi cánh chim ngơi
Đố ai bắt được chim trời mới ngoan.

Lên non mới biết non cao
Xuống biển cầm sào cho biết cạn sâu.

Giầu ba mươi tuổi chớ mừng
Khó ba mươi tuổi con đừng vội lo.

Hoài lời nói kẻ vô tri
Một trăm gánh chì đúc chẳng nên chuông.

Chợ đang đông em không toan liệu
Chợ tan rồi em bán chịu chẳng ai mua.

Quý chi một nải chuối xanh
Năm bảy người dành cho mủ dính tay.

Giúp nhau khi đói mới hay
Nói chi bù cặp những ngày ấm no.

Trồng cây cũng muốn cây xanh
Nuôi con cũng muốn con thành thất gia.

Thuyền không bánh lái thuyền quày
Em không cha mẹ ai bày em nên?

Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai
Chẳng thà ăn sắn, ăn khoai
Không ở dượng ghẻ om tai láng giềng.

Khúc sông bên lở, bên bồi
Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm.

Đi buôn không lỗ thì lời
Đi ra cho biết mặt trời, mặt trăng.

Tiếc vàng đổ lộn với thau
Tiếc con chim phượng xuống bàu le le.

Chân mình còn lấm mê mê
Lại đi cầm đuốc mà rê chân người.

Chê tôm ăn cá lù đù
Chê thằng bụng bự, thằng gù lại ưng.

Nơi nào chí quyết một nơi
Làm người nay đổi mai rời sao nên.

Chớ thấy áo rách mà cười
Cái giống gà nòi lông nó lơ thơ.

Con chim ham ăn còn mắc cái tròng
Người mà ham của sao khỏi mắc vòng gian nan?

Con quạ ăn dưa, bắt con cò phơi nắng
Nghĩ chuyện đời, con cò trắng con quạ đen
Con quạ mà biết mình đen
Nó đâu có dám mon men tới cò.

Con còng dại lắm ai ơi
Uổng công se cát, sóng bồi lại tan.

Của trời trời lại lấy đi
Giương hai con mắt làm chi được trời.

Dừa tơ bẹ dúm tốt tàng
Giầu sang có chỗ, điếm đàng có nơi.

Đói lòng ăn quả khổ qua
Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười.

Đất có bồi có lở
Người có dở có hay
Coi theo thời mà ở
Chọn theo cỡ mà xài
Dầu ai ỷ thế cậy tài
Em giữ lòng thục nữ dùi mài gương trong.

Hiu hiu gió thổi đầu non
Những người uống rượu là con Ngọc Hoàng
Ngọc Hoàng ngự tại ngai vàng
Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi
Con rằng con uống con chơi
Hay đâu con uống con rơi xuống sình.

Khế với chanh một lòng chua xót
Mật với gừng một ngọt một cay.

Mèo hoang lại gặp mèo hoang
Anh đi ăn trộm gặp nàng mói khoai. (*)

(*). Mói: đào, bới (trộm)

Đời xưa quả báo còn chầy
Đời nay quả báo một dây nhãn tiền.

Hoa thơm ở chốn lầu cao
Gió nam thổi xuống hướng nào cũng thơm.

Một vũng nước trong, con cá vùng cũng đục
Dầu đỏ như cục son tầu, gần mực cũng đen.

Muốn cho mau lớn mà chơi
Mới lớn lên rồi già lại theo sau.

Non cao ai đắp mà cao
Sông sâu ai bới ai đào mà sâu?

Nước giữa đồng anh chê trong chê đục
Nước vũng trâu đầm anh hì hục khen ngon.

Nước lớn rồi lại nước ròng
Đố ai bắt được con còng trong hang.

Thế gian lắm chuyện khôi hài
Hễ ăn được cá tính bài bỏ nơm.

Rủ nhau đi bẻ dành dành (*)
Dành dành không bẻ, bẻ cành mẫu đơn.

Rủ nhau xuống biển bắt cua
Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi.

(*). Dành dành: loại cây có hoa trắng và thơm.

Ruộng hoang người ta khẩn còn thành
Huống chi ruộng thuộc sao đành bỏ hoang.

Tằm vương tơ, nhện cũng vương tơ
Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm.

Vai mang túi bạc kè kè
Nói quấy nói quá người nghe ầm ầm
Trong lưng chẳng có một đồng
Lời nói như rồng cũng chẳng ai nghe.

Hạt tiêu nó bé nó cay
Đồng tiền nó bé nó hay cửa quyền.

Khi vui thì vỗ tay vào
Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.

Của mình thì giữ bo bo
Của người thì thả cho bò nó ăn.

Hèn mà làm bạn với sang
Chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.

Xuềnh xoàng đánh bạn xuềnh xoàng
Trẻ vui bạn trẻ, già choang bạn già.

Hơn nhau tấm áo tấm quần
Thả ra bóc trần ai cũng như ai.

Tham vàng bỏ đống gạch đầy
Vàng thì ăn hết, gạch xây lên thành.

Trống chùa ai đánh thì thùng
Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng?!

Thua thì thua mẹ, thua cha
Cá sinh một lứa ai mà thua ai.

Thương ai thương cả đường đi
Ghét ai ghét cả tông ty, họ hàng.

Vịt chê lúa lép không ăn
Chuột chê nhà trống ra nằm bụi tre.

Vên vên cứng, dành dành cũng cứng
Mù u tròn, trái nhãn cũng tròn
Vàng thau tuy trộn một bồn
Anh là tay thợ lựa, lòn phải ra.

B. CA DAO THỜI KỲ BỊ THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC

Giặc Tây đánh đến Cần Giờ (1)
Biểu (bảo) đừng thương nhớ, đợi chờ uổng công.

Chớ tham đồng bạc con cò
Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang sa. (2)

(1). Cửa Cần Giờ: ở Gia Định quân Pháp qua Cần Giờ tiến vào chiếm Gia Định.
(2). Đồng bạc con cò: cũng gọi là đồng bạc trắng.

Trèo lên chuông Bụt múa cờ
Tưởng làm nên danh phận, ai ngờ thú Tây.

Vạn Niên là Vạn Niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân. (*)

(*). Câu này nói về việc vua Tự Đức xây thành Vạn Niên cơ tức Khiêm Lãng làm cho binh lính và thợ thuyền nhiều người phải bỏ mạng. Năm 1866 binh lính và thợ thuyền ở đây đã nổi dậy làm cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của anh em Đoàn Hữu Trưng nhưng cuộc khởi nghĩa này đã thất bại.

Thằng Tây nó ở bên Tây
Bởi vua chúa Nguyễn rước thầy đem sang
Cho nhà, cho cửa tan hoang
Cho thiếp ngậm đắng, cho chàng nuốt cay
Cha đời mấy đứa theo Tây!
Mồ ông, mả tổ voi giầy biết chưa? (*)

(*). Đây là lời nhân dân kể tội triều đình nhà Nguyễn. Vua nhà Nguyễn lúc bấy giờ là Nguyễn Gia Long (Nguyễn Ánh) đã cầu viện thực dân Pháp để diệt nhà Nguyễn Tây Sơn và gây nên cái họa mở đường cho quân đội thực dân Pháp xâm lược nước ta.

Gáo vàng đem múc giếng Tây
Khôn ngoan cho lắm, tớ thầy người ta.

Khi đi cửa Hội còn không (*)
Khi về cửa Hội đồn trong, điếm ngoài.

(*). Cửa Hội: thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, ý nói quân Pháp đã xâm chiếm mất cửa Hội rồi.

Tiếc quả hồng ngâm đem cho chuột vọc
Tiếc người ngọc đem cho ngâu vầy
Tiếc của nước Nam ta xây dựng,
để cho Tây tung hoành.

Trời ơi! trông xuống mà coi
Nước Nam cơ khổ, “con trời” hai ông:
Hàm Nghi chính thực vua trung
Còn như Đồng Khánh là ông vua xằng.

Hoàng triều Bảo Đại tứ niên
Đã ba cái lụt, lại liền cái keo (sâu keo)
Xã dân đâu đấy túng nghèo
Cho lên ngũ tỉnh phải theo đồn điền
Ông Tây lắm bạc, nhiều tiền
Bỏ ra sức giấy mộ liền cu ly.

Sáu giờ còn ở kinh đô
Chín giờ xe lửa đã vô cửa Hàn (1)
Mười giờ bước xuống xà lan
Bóp bụng mà chịu, nát gan trăm bề
Bước lên tầu, tầu thổi súp-lê (2)
Khoát khăn kéo lại, bảo em về nuôi con
Đầu hè có buồng chuối non
Để dành xáo, ghế cho con ăn dần
Khoai từ, khoai choái, khoai nần
Còn một vạt bắp trước sân chưa già
Với hũ sắn lát trong nhà
Để giành xáo, ghế cho qua tháng ngày.
Bớ em ơi!
Ráng mà nuôi con chim chuyền cho biết liệng, biết bay
Mai sau anh có thác, hắn giữ cái ngày tiên linh. (3)

(1). Cửa Hàn: tức là cửa Đà Nẵng ngày nay.
(2). Súp-lê: còi tầu (tiếng Pháp: soufflet).
(3). Ngày tiên linh: ngày giỗ tổ tiên.

Con cò mà đậu cành tre
Thằng Tây bắn súng cò què một chân
Hôm sau ra chợ Đồng Xuân
chú Khách mới hỏi: sao chân cò què?
Cò rằng: cò đứng bụi tre
Thằng Tây bắn súng, cò què một chân…

Ở bên ni Hàn ngó qua bên tê Hà Thân
nước xanh như tàu lá
Ở bên tê Hà Thân ngó qua bên ni Hàn
thấy phố xá nghênh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
Đào sông Câu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu
Dặn tấm lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau.

Hạch triều Hàm Nghi
Thi đời Đồng Khánh
Bái mạnh (mệnh) toàn quyền
Bà đầm ngồi trửa (giữa)
Ông lớn ngồi bên
Các ông lậy xuống, trông lên
Vinh hoa, áo mũ, nhục quên mất rồi.

Ngó xuống sông Hương, nước xanh như tàu lá
Ngó về Đập Đá, phố xá nghênh ngang
Từ ngày Tây lại, sứ sang (*)
Đi xâu, nộp thuế, làm đàng không ngơi.

(*). Sứ: tức công sứ: viên quan cai trị người Pháp đứng đầu một tỉnh.

Chém cha những đứa sang giầu
Cậy thần, cậy thế cúi đầu nịnh Tây.

Một nhà sinh đặng ba vua:
Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài. (*)

(*). Vua sống: Đồng Khánh, vua chết: Kiến Phúc, vua thua chạy dài: Hàm Nghi. Cả ba người này đều là anh em trong một nhà.

Trời cao thăm thẳm, đất dày
Bao giờ lính mộ sang Tây được về
Vợ con thương nhớ ủ ê
Biết rằng sang đấy có về được không?

Nhờ ai cho gà đỏ đuôi
Nhờ ai mà được cưỡi voi, ngồi thuyền
Nhờ ai có bạc, có tiền
Nhờ ai mà có nàng tiên đứng hầu
Nhờ ai có ruộng, có trâu
Nhờ ai mà có mâm thau, đũa ngà
Nhờ ai có lụa, có là
Vợ gọi bằng bà, con gọi cậu, cô
Đến khi giặc Pháp tràn vô
Quan nhỏ tếch mất, quan to chạy dài
Ai ơi, có thế chăng ai?

Đời mô cơ cực như ni
Đồng Khánh ở giữa, Hàm Nghi hai đầu. (*)

Người làm ruộng, kẻ làm thuê
Đi buôn, đi bán mọi nghề kém thua.

(*). Đồng Khánh ở giữa: tức kinh đô Huế, nơi giặc Pháp đã chiếm được. Hàm Nghi hai đầu: chỉ những vùng có phong trào Cần Vương từ Quảng Trị, Quảng Bình ra Bắc và từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận.

Ai ơi! đi lính cho Tây
Con dại cả bầy bỏ lại ai nuôi?
Chuyện đâu có chuyện lạ đời
Quan đi theo giặc bắt người lành ngay
Nghìn năm nhớ mãi nhục này
Theo Tây được thả, đánh Tây bị tù. (*)

(*). Câu này nhằm chửi Bùi Thức Kiên là tổng đốc Hà Nội năm 1873 đã thả bọn lính cờ vàng đi theo tên cướp nước Francis Garnier và bắt giam quân nghĩa dũng của Văn thân Hà Nội tự động lập ra để chống thực dân Pháp. Câu này được phổ biến thành ca dao chửi bọn Việt gian nói chung.

Duy Tân niên hiệu vua ta
Năm nay Quý Sửu mới là tất niên
Dân tình nhiều nỗi truân chuyên
Lúa chiêm thì xấu, thuế thêm nặng nề
Người làm ruộng, kẻ làm thuê
Đi buôn, đi bán mọi nghề kém thua.

Mười giờ ông chánh về Tây
Cô Ba ở lại lấy thầy thông ngôn.

Bể Đông có lúc vơi đầy
Mối thù đế quốc có ngày nào quên.

Kể từ lính mộ ra đi
Ở nhà nhiều nỗi sầu bi thất tình
Sự này bởi tại triều đình
Đêm nằm nghĩ lại phận mình gian nan.

Rủ nhau ra tới cửa Hàn
Thấy đang tập lính dư ngàn, dư trăm
Thương chàng thiếp cũng phải ra thăm
Chàng qua bên Tây địa biết mấy năm mới về?
Tham chi bạc trắng thằng Tây
Anh đi lính mộ bỏ bầy con thơ.

Chim bay về mỏm Sơn Trà
Chàng đi lính mộ xa là quá xa
Sự này bởi tại Lang sa
Cho nên đũa ngọc mới xa mâm vàng.

Thóc đâu mà nộp cho Tây
Nó ăn cho béo, nó đầy đọa ta
Hỡi này các bạn nông gia!
Bảo nhau đừng nộp thóc ta cho thù.

Đất này là đất tổ tiên
Đất này chồng vợ bỏ tiền ra mua
Bây giờ Nhật, Pháp kéo hùa
Chiếm trồng đay lạc, ức chưa hỡi trời!

Ruộng ta ta cấy ta cầy
Không nhường một bước cho bầy Nhật – Tây
Chúng mày lảng vảng tới đây
Rủ nhau gậy, cuốc đuổi ngay khỏi làng.

Bao giờ đuổi giặc Nhật, Tây?
Để em được sống những ngày ấm no
Cực thân em đẩy xe bò
Cho phường giặc nước ô tô, nhà lầu.

Áo em, áo chiếu mo cau
Áo phường giặc cướp rặt màu tơ len
Ai về nhắn chị cùng em
Có đi giết giặc cho em theo cùng.

Lỡ lầm vào đất cao su
Chẳng tù thì cũng như tù chung thân.

Đồn Tây đãi cát ra vàng
Nghe ai dụ dỗ mà chàng vào đây?

Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng, khi về bủng beo
Cao su đi dễ khó về
Khi đi mất vợ, khi về mất con
Cao su xanh tốt lạ đời
Mỗi cây bón một xác người công nhân
Có đi mới biết Mê Kông
Có đi mới biết thân ông thế này
Mê Kông chôn xác hàng ngày
Có đi mới biết bàn tay xu Bào. (*)

(*). Tên một thằng cai đồn điền cao su nổi tiếng tàn ác. (xu: tức là surveillant: người kiểm soát)

Cây cao su quý hơn người
Mỗi khi cây bệnh cây thời nghỉ ngay
Lang ta cho chí lang Tây
Đêm đêm lo lắng, ngày ngày chăm nom
Còn ta đau ốm, gầy còm
Đau không được nghỉ, chết hòm cũng không.

Ngày ngày nghe tiếng còi tầm
Như nghe tiếng vọng từ âm phủ về
Tiếng còi não nuột, tái tê
Bước vào hầm mỏ như lê vào tù.

Làm thì chẳng kém đàn ông
Thế mà kém gạo, kém công, kém tiền.
Một ngày hai sáu đồng xu
Đi sương về mù, khổ lắm ai ơi!

Lầm than cực khổ thế này!
Xúc than, cuốc đất suốt ngày lọ lem.

Đau đẻ cũng phải xúc than
Đẻ rơi cũng mặc, kêu van cũng lờ.

Nghỉ việc không gạo bỏ nồi
Ốm no bò dậy, không người chăm nom. (*)

Sáng ngày vác cuốc trèo non
Tối về mới biết mình còn sống đây.

(*). Ốm no: ốm chán, ốm chê.

Nhà thương vô có, ra không
Chị đi kiếm chồng ra bãi tha ma.

Thẻ tôi lĩnh có hai đồng
Ông cai lĩnh hộ, trừ công năm hào.

Cây mắm cò quăm, cây xú cò queo
Thắt lưng cho chặt mà theo anh về
Ăn cơm với cá mòi he
Lấy chồng Cẩm Phả, đun xe suốt đời.

Ông cai ơi hỡi ông cai!
Công tôi làm được đúng hai mươi ngày
Làm sao mà đến kỳ này
Công hai mươi ngày hụt mất hào tư.

Cái cân có quỷ, có ma
Gạo vào một lối, gạo ra một đường
Thẻ tôi ba mươi sáu ký rõ ràng
Về nhà, khảo lại chỉ còn ba mươi.

Ai đi Uông Bí, Vàng Danh
Má hồng để lại, má xanh mang về.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tục ngữ phong dao (nguyễn Văn Ngọc, NXB Minh Đức, H, 1957) tập I, II.
2. Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan, in lần thứ 7, NXB KHXH, H, 1971).
3. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam – Phần Văn học dân gian (NXB Văn học, H, 1973)
4. Hát ví Nghệ Tĩnh (Nguyễn Chung Anh, NXB Văn – Sử – Địa, H, 1958).
5. Hát phường vải (Ninh Viết Giao, NXB Văn hóa, H, 1961)
6. Hát giặm Nghệ-Tĩnh (Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, NXB Sử học, H, 1962).
7. Dân ca quan họ Bắc Ninh (Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, NXB Văn hóa, H, 1965)
8. Dân ca Thanh Hóa (Nhóm Lam Sơn, NXB Văn học, H, 1965).
9. Dân ca Bình-Trị-Thiên (Trần Việt Ngữ, Thành Duy, NXB Văn hóa, H, 1967).
10. Dân ca Nam Trung Bộ (Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang… NXB Văn hóa, H, 1966).
11. Dân ca Nam Bộ (Ban nghiên cứu âm nhạc – Bộ Văn hóa, H, 1959).
12. Ca dao Việt Nam trước Cách mạng (Viện Văn học, NXB Văn học, H, 1963).
13. Ca dao kháng chiến (NXB Quân đội nhân dân, H, 1961).
14. Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, NXB KHXH, H, 1975).
15. Các tập tư liệu sưu tập và điều tra văn học dân gian của cán bộ và sinh viên khoa ngữ văn, trường ĐHTH Hà Nội trong các đợt đi thực tập, phục vụ và công tác ở các địa phương. Đặc biệt là các tập ca dao, dân ca đã biên soạn hoàn chỉnh: hát ví Hà Bắc, hát đúm Thủy Nguyên, dân ca Nam Bộ, hát đố, hát trống quân Hà-Sơn-Bình, ca dao Nam Hà).

MỤC LỤC

Lời giới thiệu

TỤC NGỮ

I. Quan niệm về giới tự nhiên
II. Đời sống vật chất
III. Đời sống xã hội
IV. Đời sống tinh thần – những quan niêm về nhân sinh.

CA DAO

A. CA DAO THỜI KỲ PHONG KIẾN

I. Lao động và các nghề nghiệp
II. Lịch sử và đất nước
III. Tình yêu nam nữ
IV. Hôn nhân và gia đình
V. Đấu tranh chống phong kiến và tệ nạn xã hội
VI. Nhận định về con người và việc đời

B. CA DAO THỜI KỲ BỊ THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC

Chịu trách nhiêm xuất bản:

Giám đốc: PHẠM VĂN AN
Tổng biên tập: NGUYỄN NHƯ Ý
Biên tập lần đầu:
LƯƠNG VĂN PHÚ
Biên tập tái bản:
ĐINH THÁI HƯƠNG
Trình bày bìa:
HÀ TRÌ

———————————————————————–

In 1000 cuốn, khổ 13 x 19. Tại xưởng in NXB Văn hóa Dân tộc.
Giấy phép xuất bản số: 232/CXB – 270
In xong và nộp lưu chiểu tháng 1 năm 1999.

———————————————————————–

HẾT

CA DAO TRỮ TÌNH VIỆT NAM

PHAN HÁCH

Tuyển chọn và giới thiệu

NHÀ XUẤT BẢN HẢI PHÒNG

(Năm 2006)

LỜI GIỚI THIỆU

Ca dao trữ tình Việt Nam đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Nó là sự biểu hiện của cách tư duy, cách đề cập và cách nói về các đề tài trong cuộc sống tinh thần như: tâm tư, tâm linh và tình cảm của người dân Việt Nam. Mảng ca dao này được nảy sinh và đúc kết qua nhiều thế hệ, nó là sự phản ánh và tổng kết của con người Việt Nam từ các mặt của đời sống như: lao động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày, tình yêu đôi lứa, các quá trình dựng nước và giữ nước… xuyên suốt một chặng đường dài 4000 năm lịch sử hình thành và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.
Hy vọng đây sẽ là một tư liệu bổ ích cung cấp cho bạn đọc hiểu thêm phần nào về sự phong phú, súc tích và đa dạng trong mảng văn hóa dân gian của dân tộc ta.

Trúc xinh trúc đứng bờ ao
Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

Thấy em anh cũng muốn thương
Nước thì muốn chảy nhưng mương chưa đào
Em về lo liệu thế nào
Để cho nước chảy lọt vào trong mương.

Hỡi cô tát nước quang mây!
Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng
Cây ngô đồng cành cao cành thấp
Ngọn ngô đồng lá dọc lá ngang
Quả dưa gang ngoài xanh trong trắng
Quả mướp đắng ngoài trắng trong vàng
Từ ngày anh gặp được nàng
Lòng càng ngao ngán, dạ càng ngẩn ngơ.

Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng anh thương.

Hoa thơm xuống đất cũng thơm
Em giòn, em rách, đói cơm cũng giòn.

Răng đen nhưng nhức hạt dưa
Miệng cười tủm tỉm như chưa có chồng
Chưa chồng anh kiếm chồng cho
Chưa con anh kiếm con cho mà bồng.

Vào vườn trảy quả cau con
Anh thấy em giòn, muốn kết nhân duyên
Hai má có hai đồng tiền
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ưa
Anh đã có vợ con chưa?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào.

Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.

Tay nâng chén muối, đĩa gừng
Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau.

Nếu mà không lấy được em
Anh về đóng của, cài rèm đi tu
Tu mô cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa.

Lá này gọi lá xoan đào
Tương tư gọi nó thế nào hở em!
Lá khoai anh ngỡ lá sen
Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn em khêu.

Đói lòng ăn nửa quả sim
Uống lưng bát nước, đi tìm người thương
Người thương, ơi hỡi người thương!
Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng?

Ai về đường ấy hôm mai
Gửi dăm điều nhớ, gửi vài điều thương
Gửi cho đến chiếu đến giường
Gửi cho đến chốn buồng hương em nằm.

Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường
Thấy em nằm đất, anh thương
Anh ra kẻ chợ đóng giường tám thang
Bốn góc thì anh thếp vàng
Bốn chân thếp bạc, tám thang chạm rồng
Bây giờ phải bỏ giường không
Em đi lấy chồng, phí cả công anh!

Từ ngày em bén duyên chàng
Như chuông khác tiếng, như vàng pha thau
Từ ngày ta bén duyên nhau
Như áo phải dầu, gột cũng chẳng phai
Bây giờ chàng đã nghe ai
Áo hoen mặc áo, dầu phai mặc dầu.

Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy.

Chẳng yêu nhau được thì thôi
Xin chàng đừng tẩy nước vôi mà nồng
Chẳng yêu nhau được thì đừng
Xin chàng chớ tẩy nước gừng mà cay.

Có yêu thì nói rằng yêu
Chẳng yêu thì nói một điều cho xong
Làm chi dở đục, dở trong
Lờ lờ nước hến cho lòng tương tư.

Có nên thì nói là nên
Chẳng nên sao để đấy quên đây đừng
Làm chi cho dạ ngập ngừng
Đã có cà cuống thì đừng hạt tiêu.

Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây
Rung cây, rung cội, rung cành
Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng.

Mình về mình nhớ ta chăng?
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.

Sông sâu cá lội mất tăm
Chín tháng cũng đợi, một năm cũng chờ
Chờ anh chờ ngẩn, chờ ngơ
Chờ hết mùa mận, mùa mơ, mùa đào.
Chờ anh cho tuổi em cao
cho duyên em muộn, má đào em phai.

Nhớ ai nhớ mãi thế này
Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn.

Nhớ ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi
Nhớ ai hết đứng lại ngồi
Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân
Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa.

Chẳng chè, chẳng chén, sao say
Chẳng thương, chẳng nhớ sao hay đi tìm?
Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể bắc, đi tìm bể đông.

Ai về đường ấy hôm mai
Gửi dăm điều nhớ, gửi vài điều thương
Gửi cho đến chiếu đến giường
Gửi cho đến chốn buồng thương em nằm.

Ai xinh thì mặc ai xinh
Ông tơ chỉ quyết xe mình với ta
Thủy chung em giữ trọn lời
Chết đi thì chịu, lìa đôi không lìa
Hồng Hà nước đỏ như son
Chết đi thì chớ, sống còn lấy anh.

Ra về tay nắm lấy tay
Mặt nhìn lấy mặt, lòng say lấy lòng.

Yêu nhau chẳng lấy được nhau
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già
Bao giờ xum họp một nhà
Con lợn lại béo, cau già lại non.

Anh về cuốc đất trồng cau
Cho em trồng ghé cây trầu một bên
Mai này trầu nọ lớn lên
Cau kia ra trái làm lên cửa nhà.

Đêm qua trời sáng, trăng rằm
Anh đi qua cửa, em nằm không yên
Mê anh chẳng phải mê tiền
Thấy anh lịch sự, có duyên, dịu dàng
Thấy anh em cũng mơ màng
Tưởng rằng đâu đấy phượng hoàng kết đôi
Thấy anh chưa kịp ngỏ lời
Ai ngờ anh đã vội rời gót loan
Thiếp tôi mê mải canh tàn
Chiêm bao như thấy có chàng ở bên.

Khi xưa ai biết ai đâu
Chỉ vì điếu thuốc, miếng trầu nên quen
Khi xưa biển rộng, sông dài
Sao lưới chả mắc, sao chài chả quăng?
Bây giờ sông đã chắn đăng
Còn mang lưới mắc, chài quăng làm gì.

Mình về sao được mà về
Mặt trăng còn đó, lời thề còn đây.

Mình nói với ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình những đất cùng tro
Ta đi gánh nước tắm cho con mình.

Khi say một chén cũng say
Khi nên tình nghĩa một ngày cũng nên.

Ra về lòng lại dặn lòng
Chanh chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham.

Mong sao anh biến ra tằm
Em biến ra nống, ta nằm chung chơi
Khi nào cho hợp hai nơi
Ghé tai nói nhỏ những lời thủy chung.

Nắng đâu nắng mãi thế này
Nắng suốt cả ngày chẳng thấy bóng râm
Hỡi người thục nữ tri âm
Có muốn đứng mát thì cầm lấy ô.

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng, quai tua dịu dàng
Bảy thương nết ở khôn ngoan
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
chín thương cô ở một mình
Mười thương con mắt có tình với ai.

Mưa từ trong núi mưa ra
Mưa khắp thiên hạ, mưa qua chùa Thầy
Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang.

Chim xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no, tắm mát, đậu cành cây đa
Cực lòng em phải nói ra
Chờ trăng trăng xế, chờ hoa hoa tàn.

Nhớ ai, em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?

Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
Ai ơi, nếm thử mà xem!
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

Người yêu ta để trên cơi
Nắp vàng đậy lại, để nơi giường thờ
Đêm qua ba bốn lần mơ
Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không.

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ!
Chim vào lồng, biết thủa nào ra!

Cây oằn vì bởi trái sai
Xa em vì bởi ông mai ít lời.

Thà rằng chẳng biết cho xong
Biết ra như xúc, như đong lấy sầu.

Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ.

Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoa
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta
Công anh chăn nghé bấy lâu
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày
Công anh tháng đợi năm chờ
Sao em đứt chỉ, lìa tơ cho đành?

Bấy lâu lên ngọn sông Tân
Muốn tìm cá nước phải tìm trời mưa
Tiếc công đắp đập, be bờ
Để ai quẩy đó, mang lờ đến đơm.

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc anh lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi?
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.

Cô kia cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây
Sang đây anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này: có lấy anh không?

Dẫu rằng đá nát, vàng phai
Ba sinh phải giữ lấy lời ba sinh
Duyên kia có phụ chi tình
Mà toan sẻ gánh chung tình làm hai
Bây giờ người đã nghe ai
Thả chông đường nghĩa, rắc gai lối tình
Nhớ lời hẹn ước đinh ninh
Xa xôi ai có thấu tình cho ai?

Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng
Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?
Trầu vàng nhá lẫn cau xanh
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.

Đấy vàng, đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý, đây sen nhị hồ
Đấy em như tượng mới tô
Đây anh như người ngọc đồ trong tranh.

Đêm qua nguyệt lặn về tây
Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài
Trúc với mai, mai về trúc nhớ
Trúc trở về mai nhớ trúc không?
Bây giờ kẻ bắc người đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư.

Cổ cao ba ngấn cổ cao
Răng đen hột đỗ, miệng cười có duyên.

Của chua ai thấy chẳng thèm
Em cho chị mượn chồng em vài ngày
Chồng em đâu phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm.

Cô kia má đỏ hòn than
Nằm đâu ngủ đấy lại toan chê chồng
Chê chồng chẳng bõ chồng chê
Chê chồng thì ít, chồng chê thì nhiều.

Cô kia tóc bỏ đuôi gà
Đến đây anh hỏi một vài ba câu
Tóc cô chính tóc ở đâu
Hay là tóc mượn ở đâu chắp vào?

Lẳng lơ cũng một anh chồng
Chính chuyên cũng chẳng nằm không đêm nào
Một đêm tám, chín trai vào
Lòng tôi nhân đức chẳng để anh nào ra không.

Chớ thấy áo rách mà cười
Những giống gà nòi lông nó lơ thơ
Chớ thấy áo dài mà sang
Bởi không áo ngắn phải mang áo dài.

Em là cô gái Kẻ Mơ
Em đi bán rượu tình cờ gặp anh
Rượu ngon chẳng quản be sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may
Rượu nhạt uống lắm cũng say
Áo rách có mụn, vá ngay lại lành.

Anh đồ ơi hỡi anh đồ
Có ăn cơm tấm trộn ngô thì vào
Cơm tấm còn đãi dưới ao
Ngô thời chưa bẻ, anh vào làm chi.

Yêu nhau đi nhớ về thương
Em về cái chốn buồng hương anh nằm
Thấy chiếu mà chả thấy chăn
Thấy chỗ mình nằm chẳng thấy mình đâu.

Ba cô cùng ở một nhà
Cùng đội nón thắm, cùng ra thăm đồng
Ai làm cái nón quai thao
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh.

Hỡi cô yếm thắm đeo bùa
Bố mẹ có bán anh mua nửa người
Anh mua từ rốn đến đùi
Từ bụng đến mặt mặc trời với em.

Đàn ông nằm với đàn ông
Như gốc như gác, như chông như chà
Đàn ông nằm với đàn bà
Như lụa như lĩnh, như hoa trên cành.

Cái cò, cái mẩy, cái tôm
Cái tôm quặp lại, lại ôm cái cò
Cái cò mày mổ cái trai
Cái trai quặp lại, lại nhai cái cò.

Chị dại đã có em khôn
Lẽ đâu mang giỏ thủng trôn đi mò
Em khôn em ở trong bồ
Chị dại chị ở kinh đô chị về
Kinh đô thì mặc kinh đô
Chị đi cho lắm thì đồ chị tan.

Đàn ông đóng khố đuôi lươn
Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh.

Cô kia khăn trắng tang ai
Nhất tang cha mẹ, thứ hai tang chồng.
Tang chồng thì vứt khăn đi
Tang cha, tang mẹ ta thì tang chung.

Lấy chồng thì phải theo chồng
Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng đi.

Chém cha con mắt lá khoai
Liếc chồng thì ít, liếc trai thì nhiều.

Có chồng càng dễ chơi ngang
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?

Sư đi chùa mốc sân rêu
Mõ khuya ai gõ, chuông chiều ai khua?
Vinh hoa là cái trò đùa
Đã tu không trót lại mua trò cười.

Lẳng lơ cho rách yếm ra
Về nhà hỏi mẹ, yếm thông hoa không bền.

Đôi ta như đũa trong kho
Không tề, không tiện, không so cũng bằng
Đôi ta như thể con bài
Đã quyết thì đánh, đừng nài thấp cao
Đôi ta như đá với dao
Năng liếc thì sắc, năng chào năng quen.

Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
Nữa mai rồng ngược, mây xuôi
Biết bao giờ lại nối lời nước non.

Ấy ai dắt mối tơ mành
Cho thuyền quen bến, cho anh quen nàng
Tơ tằm đã vấn thì vương
Đã trót dan díu thì thương nhau cùng.

Mình em như cây thầu dầu
Ngoài tươi, trong héo, giữa sầu tương tư
Đêm qua ba bốn lần mơ
Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không.

Đôi ta như lúa đòng đòng
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha
Đôi ta như chỉ xe ba
Thầy mẹ xe ít, đôi ta xe nhiều.

Xa xôi dịch lại cho gần
Làm thân con nhện mấy lần vương tơ
Chuồn chuồn mắc phải tơ vương
Nào ai quấn quýt thì thương nhau cùng
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.

Người sao hẹn một thì nên
Người sao chín hẹn thì quên cả mười.

Cổ tay đã trắng lại tròn
Cầm vào mát rượi như hòn tuyết đông.

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng:
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
– Đan sàn thiếp cũng xin vâng
Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?

Yêu nhau quá đỗi nên mê
Tỉnh ra mới biết kẻ chê, người cười
Yêu nhau chẳng lọ chiếu giường
Dẫu rằng tầu lá che sương cũng tình.

Gió đưa cây sậy nằm dài
Ai làm thục nữ buồn hoài không vui?

Có trăng anh phụ lồng đèn
Đặng nơi sang trọng, lời nguyền quên ngay.

Trăng lên khỏi núi trăng tròn
Xuân xanh em mấy mà giòn rứa em?
Trên đầu lược giắt, trâm cài
Tảo tần khuya sớm chưa ai chung tình.

Dao vàng mà liếc đá vàng
Mắt anh anh ngỏ, mắt nàng nàng ngơ
Ngỏ chi cho thế gian ngờ
Đó thương đó biết, đây chờ đây hay…

Đi đêm sợ kẻ gian tà
Nói vào thì ít, nói ra thì nhiều
Yêu nhau không lấy được nhau
Mượn dao, đánh kéo, cạo đầu đi tu.

Chiều chiều mang giỏ hái dâu
Hái dâu không hái, nhớ câu ân tình.

Chưa quen đi lại cho quen
Tuy rằng đóng cửa mà then không cài
Kẻ khinh người trọng, vãng lai
Song le cũng chửa có ai bằng lòng.

Chuông vàng đánh nhẹ kêu thanh
Trai khôn nói ít, gái lanh biết nhiều
Rựa hay chẳng bén bằng rìu
Muốn nên cơ nghiệp phải chiều lòng em.

Chừng nào cho được bắt tay
Gối luồn một một gối dạ này mới ưng
Chừng nào cho mõ xa đình
Hạc xa hương án chung tình mới xa
Trèo lên cây bưởi hái bòng
Đưa dao ta gọt xem lòng ngọt chua
Bòng em không ngọt, không chua
Tiền trăm, bạc núi chưa mua được bòng.

Thương thì kết tóc, giao tay
Không thương én liệng, nhạn bay mặc lòng
Một mai trống lủng khó hàn
Dao cùn khó đứt, người ngoan khó tìm.

Chiều nay có kẻ thất tình
Tựa mai mai ngả, tựa đình đình xiêu
Không ai hôm sớm bạn cùng
Nương mai mai gẫy, dựa tùng tùng xiêu.

Xấu xa cũng thể chồng ta
Cho dù tốt đẹp cũng ra chồng người
Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

Đừng thấy em bé mà chòng
Ngày sau em lớn phải lòng em ngay.

Qua đồng ghé nón thăm đồng
Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu.

Tay nâng khăn gói sang sông
Mồ hôi ướt đẫm, thương chồng phải theo.

Ớt nào là ớt chẳng cay
Gái nào là gái chẳng hay khen chồng.

Không thiêng cũng thể bụt nhà
Dầu khôn dầu dại cũng là chồng em.

Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
Đêm nằm tơ tưởng ngỡ ông láng giềng.

Chim khôn mắc phải lưới hồng
Hễ ai gỡ được, đền công lạng vàng
Đền vàng anh chẳng lấy vàng
Hễ anh gỡ được thì nàng lấy anh
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây
Rung cây, rung cội, rung cành
Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng.

Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
Chị em ơi! cho tôi mượn cái gầu sòng
Để tôi tát nước cho chồng tôi lên.

Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nâú quả mơ chua trên rừng
Em ơi! chua ngọt đã từng
Non xanh, nước bạc xin đừng quên nhau.

Chớ chê em xấu, em đen
Em như nước đục, đánh phèn lại trong.

Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi
Giậm thì ván nát, thuyền thì long đanh.

Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh
Nước non một gánh chung tình
Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?

Sông sâu cá lội biệt tăm
Chín tháng cũng đợi, một năm cũng chờ
Chờ anh chờ ngẩn chờ ngơ
Chờ hết mùa mận, mùa mơ, mùa đào
Chờ anh cho tuổi em cao
Cho duyên em muộn, má đào em phai.

Đêm qua anh ngủ nhà ngoài
Để em thở vắn, than dài nhà trong.

Chẳng chè, chẳng chén, sao say
Chẳng thương, chẳng nhớ, sao hay đi tìm?
Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể bắc đi tìm bể đông.

Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên
Tương tư, bệnh phát liên miên cả ngày
Ngỡ rằng duyên nợ đó đây
Xin chàng hãy lại chơi đây chút nào
Cho thiếp tỏ thiệt mới nao!

Nguồn ân bể ái hẹn hò
Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen
Công cha nghĩa mẹ thiếp đền
Xin chàng đừng có kết duyên chốn nào
Xin đừng đứng thấp, trông cao
Xin đừng tơ tưởng chốn nào hơn đây
Xin đừng tham gió bỏ mây
Tham vườn táo rụng bỏ cây nhãn lồng
Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một vị đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.

Bướm già thì bướm có râu
Thấy bông hoa nở, cúi đầu bướm châm
Bướm châm mà bướm lại nhầm
Có bông hoa nở ong châm mất rồi
Bướm bay nửa biển bướm ngừng
Căn duyên trời định nửa chừng mà thôi.

Bao giờ rau diếp làm đình
Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ta
Bao giờ trạch đẻ ngọn đa
Bồ câu đẻ nước thì ta lấy mình.

Cảnh chiều lắm kẻ thanh tân
Sao cô nhan sắc mười phân vẹn mười
Nam mô phật độ chúng tôi
Khiến cho anh được vào chơi thiền già.

Cau già quá lứa bán buôn
Em già quá lứa có buồn không em?
Cau già quá lứa bửa phơi
Em già quá lứa có nơi đợi chờ.

Cha đời con gái xứ Đông
Ăn trộm tiền chồng mua khố cho trai
Cha đời con gái xứ Đoài
Ăn trộm tiền mẹ mua khoai cho chồng.

Chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh chồng đi chơi
Không ngờ quang đứt lọ rơi
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.

Có mới thì nới cũ ra
Mới ở trong nhà, cũ ở ngoài sân
Có bát sứ tình phụ bát đàn
Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày.

Cô kia răng trắng hạt bầu
Hẳn cô người khách ở Tầu mới sang
Cổ cô đeo chuỗi hạt vàng
Bây giờ cô lại vơ quàng vơ xiên.

Cô kia thắt cái lưng xanh
Ăn trộm tiền mẹ để dành cho trai.

Cổ cao ba ngấn cổ cao
Răng đen hạt đỗ, miệng chào có duyên.

Cưới em có cánh con gà
Có dăm sợi bún, có vài hạt xôi!
Cưới em còn nữa anh ơi!
Có một đĩa đậu, hai muôi rau cần
Có xa dịch lại cho gần
Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi
Hay là nặng lắm anh ơi!
Để em bớt lại một muôi rau cần?

“Cô kia đội áo đi đâu?”
“Tôi là phận gái làm dâu mới về
Mẹ chồng cay nghiệt, gớm ghê
Tôi ở chẳng được tôi về nhà tôi”.

Cứ gì quần lụa áo tơ
Quần nâu áo vải thơm tho được rồi
Mặc lụa mà sực mùi hôi
Không bằng mặc vải mà không hôi gì.

Cực tình ta lắm bạn ơi!
Một con chim nhạn – mấy nơi đau lòng?
Cực lòng thiếp lắm chàng ơi!
Biết rằng lên ngược xuống xuôi đằng nào.

Đấy vàng đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý, đây sen nhị hồ
Đấy em như tượng mới tô
Đấy anh như ngọc họa đồ trong tranh.

Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi canh cửi còn anh vá chài
Nhất thương là cái hoa lài
Nhì thương ai đó áo dài ấm thân
Gặp người sao có một lần
Để em thương nhớ tần ngần suốt năm.

Đêm qua dồn dập mưa mau
Gió rung cành ngọc cho đau lá vàng
Trách chàng phụ ngãi tham vàng
Ngô đồng nỡ để phượng hoàng ngẩn ngơ
Biết nhau từ bấy đến giờ
Đã có bướm đậu thì chừa sâu ra.

Trăng bao nhiêu tuổi trăng non
Người bao nhiêu tuổi hãy còn đương xinh
Tai nghe lời nói hữu tình
Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao.

Trầu này thực của em têm
Trầu phú, trầu quý, trầu nên vợ chồng
Trầu này bọc khăn tơ hồng
Trầu này kết nghĩa loan phòng từ đây.

– Trầu vàng còn để trong cơi
Anh kia đũa mốc chớ chòi mâm son
– Trầu vàng đâu mãi trong cơi
Sợ mai trầu héo, trầu ơi là trầu!

Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.

Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước biết gửi mình vào đâu?

Đêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người tri kỷ có buồn hay không?

Đêm qua ngỏ cửa chờ ai?
Đêm nay cửa đóng then cài khăng khăng
Đến đây chẳng lẽ ngồi không
Nhờ chàng giã gạo cho đông tiếng hò.

Nhớ chàng như vợ nhớ chồng
Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây
Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
Nữa mai rồng ngược mây xuôi
Biết bao giờ lại nối lời rồng mây!

Bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông
Thiếp ngồi dệt vải những trông ngóng chàng
Dừa xanh trên bến Tam Quan
Dừa bao nhiêu trái trông chàng bấy nhiêu

Rượu nằm trong nhạo chờ nem
Anh nằm phòng vắng chờ em một mình.

Yêu nhau tâm trí hao mòn,
Yêu nhau đến thác vẫn còn yêu nhau.

Ước gì anh hóa ra hoa
Để em nâng lấy rồi mà cái khăn
Ước gì anh hóa ra chăn
Để cho em đắp, em lăn, em nằm
Ước gì anh hóa ra gương
Để cho em cứ ngày thường em soi
Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi, trầu vàng.

Đường xa thì thật là xa
Mượn mình làm mối cho ta một người
Một người mười chín, đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình.

Em là con gái Kẻ Mơ
Em đi bán rượu tình cờ gặp anh
Rượu ngon chẳng quản be sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may
Rượu nhạt uống lắm cũng say
Áo rách có mụn vá ngay lại lành.

Chim xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa
Cực lòng em phải nói ra
Chờ trăng trăng xế, chờ hoa hoa tàn.

Bấy lâu lên ngọn sông Tân
Muốn tìm cá nước phải lần trời mưa
Tiếc công anh đắp đập, be bờ
Để ai quẩy đó mang lờ đến đơm!

Mưa từ trong núi mưa ra
Mưa khắp thiên hạ, mưa qua chùa Thầy
Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang.

Đi ngang thấy ngọn đèn chong
Thấy em nho nhỏ muốn bồng mà ru
Đôi ta thương mãi, nhớ lâu
Như sông nhớ nước, như dâu nhớ tằm.

Cách nhau một bức rào thưa
Tay chùi nước mắt, tay đưa miếng trầu.

Thương anh chẳng biết để đâu
Để quán quán đổ, để cầu cầu xiêu.

Cho anh một miếng trầu vàng
Mai sau anh trả lại nàng đôi mâm.

Đêm qua nằm ngủ sập vàng
Trông xuống sập bạc thấy chàng nằm không
Vội vàng cởi áo đắp chung
Tỉnh ra em vẫn nằm không một mình.

Chân mày vòng nguyệt có duyên
Tóc mây gợn sóng, đẹp duyên tơ hồng.

Mong sao anh biến ra tằm
Em biến ra nống, ta nằm chung chơi
Khi nào cho hợp hai nơi
Ghé tai hỏi nhỏ những lời thủy chung.

Nắng đâu nắng mãi thế này
Nắng suốt cả ngày chẳng thấy bóng râm
Hỡi người thục nữ tri âm
Có muốn đứng mát thì cầm lấy ô.

Ai về đằng ấy hôm mai
Gửi dăm cái nhớ gửi vài cái thương
Gửi cho đến chiếu, đến giường
Gửi cho đến tận quê hương chàng nằm
Vắng chàng em vẫn hỏi thăm
Nơi ăn đã vậy, nơi nằm ra sao?

Lược tình em chải trên đầu
Gương tình soi mặt làu làu sáng trong
Ngồi buồn nghĩ đến hình dong
Con dao lá trúc cắt lòng đôi ta.

Cái cò là cái cò con
Mẹ nó yêu nó, nó còn làm thơ
Cái cò bay bổng bay bơ
Lại đây anh gửi xôi khô cho nàng
Đêm về nàng nấu, nàng rang
Nàng ăn có dẻo thời nàng lấy anh.

Nhắn người ở tận chốn xa
Gió trăng là bạn, bướm hoa là tình
Bao giờ duyên ta bén với duyên mình
Cầm bằng câu đối dán đình ngày xuân.

Nhớ khi anh nói anh thề
Con dao lá trúc đặt kề tóc mai
Bây giờ anh đã nghe ai
Con dao lá trúc, tóc mai thẹn thùng
Bây giờ không vẫn hoàn không
Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua
Nói ra thiên hạ hồ đồ
Tiếng tăm em chịu bao giờ cho vơi
Nói ra em chỉ thẹn lời
Kìa ông trăng sáng soi đôi cau vàng.

Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con
Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngày
Những người mặt nạc đóm dày
Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn!

Nhớ em anh gửi chút tình
Trăng non chếch bóng dọi hình đôi ta
Chiều chiều đứng mé đường xa
Trông dương nhớ biển, trông hoa nhớ người.

Ngỡ rằng cây cả bóng cao
Thiếp lăn mình vào ẩn nắng che mưa
Ai ngờ cây cả lá thưa
Ẩn nắng nắng hắt, ẩn mưa mưa vào.

Nguồn cơn tôi biết thế này
Thà rằng lấy chú ăn mày cho xong
Ngày ngày vác bị đi rong
Tối về nghỉ mát đình trung sướng đời
Giang sơn bên bị bên nồi
Nào ai vui thú với đời thì đi.

Hôm qua anh đi chợ giời
Thấy ông Nguyệt Lão đang ngồi ở trên
Tay cầm bút, tay cầm nghiên
Tay cầm tờ giấy đang biên rành rành
Biên ta rồi lại biên mình
Biên đây lấy đấy, biên mình lấy ta
Chẳng tin lên hỏi trăng già
Trăng già cũng bảo rằng ta lấy mình
Chẳng tin lên hỏi thiên đình
Thiên đình cũng bảo rằng mình lấy ta
Quyết liều một trận phong ba
Để cho thiên hạ người ta trông vào
Quyết liều một trận mưa rào
Để cho thiên hạ trông vào đôi ta.

Hỡi ai đi ngược về xuôi
Lại đây tôi kể đầu đuôi số mình
Số tôi quyết chí tu hành
Từ ngày bác mẹ bẩm sinh lọt lòng
Ăn chay nằm mộng long đong
Chín chùa tôi chả bỏ không chùa nào
Biết rằng duyên số làm sao
Bao nhiêu gái đẹp thì vào tay tôi
Chín chùa tu thế cả mười
“Đúc chuông tô tượng” xong rồi lại đi
Tôi nay tính khí cũng kỳ
Tuần rằm, mồng một tôi thì bỏ quên
Đêm nằm tưởng gái nằm bên.

Hỡi cô yếm đỏ lòm lòm
Lại đây tôi gả thằng còm cho cô
Thằng còm vừa ốm, vừa ho
Thằng còm chết mất, cô lo một mình.

Hỡi hời ông trời kia ơi!
Sao ông chẳng nhỏ cho tôi tý chồng
Trời rằng: “mày khỏe kén chồng
Mày hay kén chọn, ông không cho mày”.

Hỡi anh đi đường cái quan
Lại đây em thở em than vài lời:
“Anh là quân tử ở đời
Thì anh đừng tưởng những lời nguyệt hoa”.

Hỡi người thục nữ kia ơi!
Năm nay cô đã mấy mươi tuổi đầu?
Cô còn kén chọn vàng thau
Tuổi cô tám mốt lấy đâu là tình.

Khi xưa đằm thắm muôn phần
Bây giờ nhạt như canh cần nấu suông
Khi xưa đằm thắm như hoa
Bây giờ nhạt như rượu pha nước hồ.

– Khoan khoan buông áo em ra
Để em đi bán kẻo hoa em tàn
– Hoa tàn mặc kệ hoa tàn
Mấy thuở gặp nàng nàng biểu buông ra!

Không trơn mà trượt mới tài
Không chồng mà đẻ con trai mới tình
Nâng lên đặt xuống một mình
Than rằng: con ở trong mình mẹ ra
Có con mà chẳng có cha
Lòng mẹ chua xót người ta chê cười
Bởi vì mẹ cợt, mẹ cười
Cho nên mẹ đẻ mẹ nuôi một mình.

Xưa kia ở với mẹ cha
Mẹ cha yêu dấu như hoa trên cành
Từ ngày tôi ở với anh
Anh đánh, anh chửi, anh tình phụ tôi
Đất xấu nặn chả nên nồi
Anh đi lấy vợ cho tôi lấy chồng.

Lấy chồng cho đáng tấm chồng
Bõ công trang điểm má hồng, răng đen
Chẳng tham ruộng cả, ao liền
Tham về cái bút, cái nghiên anh đồ.

Mặc cho ong bướm rộn ràng
Em đây vẫn giữ lòng vàng với anh.

Lấy chồng từ thuở mười lăm
Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Đến năm mười tám đôi mươi
Tôi nằm dưới đất chồng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn chân giường gẫy một còn ba
Ai về nhắn với mẹ cha
Chồng tôi nay đã giao hòa cùng tôi.

Mẹ em tham gạo, tham gà
Bắt em để bán cho nhà cao sang
Chồng em thì thấp một gang
Vắt mũi chưa sạch ra đàng đánh nhau
Nghĩ mình càng tủi càng đau
Trách cha trách mẹ tham giầu tham sang.

Miếng trầu là miếng trầu cay
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi
Miếng trầu têm để trên cơi
Nắp vàng đậy lại đợi người tri âm
Miếng trầu kèm bức thư cầm
Chờ cho thấy khách tri âm sẽ chào
Miếng trầu têm để trên cao
Chờ cho thấy khách má đào mới cam
Miếng trầu têm để bên nam
Mang sang bên bắc mời chàng hôm nay
Miếng trầu xanh rõ như mây
Hạt cau đỏ ối như dây tơ hồng
Miếng trầu như trúc như thông
Như hoa mới nở, như rồng mới thêu.

Năm canh sáu khắc còn dư
Thương chàng một nỗi tương tư đêm ngày
Năm canh sáu khắc còn chầy
Thương chàng một nỗi mình gầy xác ve.

Ai làm bầu bí đứt dây
Chàng nam thiếp bắc, gió tây lạnh lùng.

Đôi ta đã trót lời thề
Ở đây thì nhớ, ra về thì thương
Ra về lòng những vấn vương
Ái ân ngàn nỗi, nẻo đường chia đôi.

Đôi ta quấn quýt tơ vương
Ai cầm dao cắt đôi đường xa nhau
Đôi ta chung một miếng trầu
Kẻ về người ở dạ sầu tương tư

Đừng chê em xấu em đen
Vốn em ở đất đồng quen ba mùa
Tháng tư cấy trộm tua rua
Tháng sáu cấy mùa, tháng chạp cấy chiêm
Một năm ba vụ cấy liền
Còn gì má phấn, răng đen hỡi chàng!

Em như bức tượng đang tô
Anh như ngòi bút họa đồ trong tranh.

Em như con hạc đầu đình
Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay.

Em như tố nữ trong tranh
Anh như ngòi bút chấm cành hoa mai
Tiếc thay mắt phượng mày ngài
Hồng nhan thế vậy nỡ hoài tấm thân.

Em ơi ngoảnh mặt lại đây
Anh nhìn thấy mặt cho khuây tấm lòng.

Em về mua thuốc nhuộm răng
Mua khăn chít lại cho bằng duyên anh.

Em về sắm sọt buôn chè
Để anh mua ấm ngồi kề một bên
Chè ngon sánh với ấm bền
Chè thì một tiền, ấm lại sáu mươi.

Đôi ta như chỉ xe ba
Thầy mẹ xe ít thì ta xe nhiều
Đôi ta như chỉ xe năm
Thầy mẹ xe ít ta cầm ta xe
Đôi ta như chỉ xe mười
Thầy mẹ xe ít mượn người ta xe.

Gặp nhau giữa cánh đồng này
Bốn mắt liếc lại, lông mày đưa ngang
Bây giờ được thở được than
Bắt con chim đậu, bỏ đàn chim bay
Bây giờ anh nắm được tay
Anh yêu vì nết, anh say vì tình.

Gà khôn gà chẳng đá lang
Gái khôn gái chẳng bỏ làng gái đi.

Gái sao chồng chẳng nằm cùng
Mặt giận lùng vùng ném chó xuống ao.

Gần nhà mà chẳng sang chơi
Để em hái ngọn mồng tơi bắc cầu
Bắc cầu anh chẳng đi cầu
Để tốn công thợ, để sầu lòng em.

Gần chùa chẳng được ăn xôi
Gần nàng chẳng được sánh đôi cùng nàng.

Giếng làng em vừa trong vừa mát
Đường làng em lắm cát dễ đi
Em ơi trang điểm làm chi?
Để cho anh phải sớm đi tối về.

Gió sao gió mát sau lưng
Bụng sao bụng nhớ người dưng thế này.

Gió đưa buồng chuối sau hè
Đã lăm le cô chị, lại muốn dò dè cô em.

Gió đưa lắt lẻo cột đình
Anh đen như rứa mà đòi vợ xinh.

Giữa trời cây cả bóng cao
Nhân duyên đã định xe vào cho anh
Trăm năm kết sợi chỉ mành
Ái ân gắn bó chung tình keo sơn.

Giường lèo mà trải chiếu may
Làm trai hai vợ như dây buộc mình.

Từ ngày ta phải lòng mình
Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen
Làm quen chẳng được nên quen
Làm bạn mất bạn ta liền quên nhau.

Hai bên hai dãy hàng hương
Ở giữa hàng nhiễu em thương hàng nào?

Thương em phát dại phát khờ
Đang ăn đũa rớt bao giờ không hay
Cầm kéo quên cắt quên may
Cầm ve quên rượu, cầm khay quên trầu
Cầm đèn quên bấc quên dầu
Cầm trang sách đọc quên đầu quên đuôi
Cầm cân quên giá quên lui
Cầm tiền mà xỉa không biết mấy mươi một tiền
Thương em nhất dại nhì điên.

Hoa sói mà gói xương sông
Thầy mẹ gả phải người chồng bất nhân
Trách trời ăn ở không cân
Để cho hoa sói đứng sân chịu sầu
Trách trời soi xét nơi đâu
Chả soi cảnh thảm cảnh sầu này cho.

Hỡi người đi đường cái đê
Dừng chân đứng lại em đề câu thơ
Xin thơ em cũng cho thơ
Biết rằng có đợi có chờ em chăng?
Anh về có nhớ em chăng?
Em về em nhớ hàm răng mình cười
Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen
Răng đen ai nhuộm cho chàng
Cho răng chàng đẹp, cho tình em say.

Kể từ khi mới gặp nàng
Cũng mong kết ngãi đá vàng Trần Châu
Cũng mong kết chỉ gieo cầu
Cũng mong ta ở với nhau một nhà
Bây giờ bướm lại gần hoa
Xin đừng chớ ngại gần xa mọi đường
Lan phòng muốn sánh thư hương
Phím đàn muốn gảy cung thương mấy vần
Muốn cho vẹn ngãi Tấn Tần
Xin đem bể ái đền ân sau này.

Hỡi ơi chú tiểu trên chùa
Chú tu sao chú bỏ bùa cho tôi.

Lấy anh thì sướng hơn vua
Anh đi xúc giậm được cua kềnh càng
Đem về nấu nấu rang rang
Chồng chan vợ húp lại càng hơn vua.

Mẹ ơi con muốn lấy chồng
Con ơi mẹ cũng một lòng như con
Mẹ ơi con đã có thai
Con ơi mẹ cũng được vài tháng nay
Mẹ ơi con đẻ hôm nay
Con ơi mẹ cũng đẻ ngay bây giờ.

Nân niu cho đáng nâng niu
Cho đáng sức chiều kẻo uổng công anh
Bao giờ cho sóng bỏ gành
Cù lao bỏ biển thì anh bỏ nàng.

Nếu anh có dạ thương em
Xin cho sáu lễ mai đem tới nhà
Thương nhau đâu quản đường xa
Anh nguyền trọn dạ đến nhà hỏi thưa.

Hỡi anh áo trắng quần là
Ước gì xum họp một nhà anh ơi!
Ước gì cơm chung một nồi
Canh chung một bát, cùng ngồi một mâm
Ước gì chung chiếu chung chăn
Chung đũa ta cầm, chung áo, chung da
Chung lâu lại đẻ con ra
Dù trai hay gái đều là con chung
Sáng về ta gửi nhà ông
Tối về ta đón con chung ta về.

Hỡi cô má phấn môi son
Chân đi chữ bát còn toan chê chồng
Chồng cô cao ngỏng cao ngồng
Đến đêm cô với cũng không tới nào.

Hỡi cô yếm thắm lòa lòa
Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm?
Ước gì anh được ở gần
Để anh nhuộm hộ thấm nhuần công anh.

Cái giường mà biết nói năng
Thằng cha hàng xóm hàm răng chẳng còn
Cái giường mà biết đánh đòn
Thằng cha hàng xóm chẳng còn cái răng

Lấy chồng gặp phải kẻ tồi
cho nên lòng những bồi hồi đắng cay
Cả ngày chỉ rượu với say
Khi nay thuốc phiện, khi mai tài bàn
Nói ra mang tiếng phũ phàng
Nín đi thì não can tràng xiết bao!
Cũng là phận gái má đào
Người thì gặp được anh hào đảm đang
Mình thì cũng dự phấn hương
Gặp nơi lêu lổng chẳng thương chút nào.

Nắm tay em lại hỏi tay
Anh yêu vì nết, anh say vì tình
Càng nhìn càng thắm càng xinh
Bóng trăng là đấy, hữu tình là đây
Biết nhau đã bấy nhiêu ngày
Làm cho ngao ngán kẻo rầy lòng nhau
Yêu nhau gặp hội long vân
Cho quen người lạ, cho gần người ngoan
Dạ anh như đám quân quan
Em như hoa sói trên ngàn dầm sương
Biết rằng anh có lòng thương
Hay là cợt giễu ngoài đường lại thôi?
Người một nơi, tiếng một nơi
Mênh mông nào biết biển trời nơi nao!
Tận từ dám tiếc công nào
Như nung gan sắt, như bào lòng son
Ngày trôi nước chảy đá mòn
Biết bao giờ được chồng con với chàng!

Ngày đi trúc chửa mọc măng
Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre
Ngày đi trúc chửa chia vè
Ngày về lúa đã đỏ hoe đầy đồng
Ngày đi em chửa có chồng
Ngày về em đã con bồng con mang.

Ngày ngày em đứng em trông
Trông non non ngất, trông sông sông dài
Trông mây mây kéo ngang trời
Trông trăng trăng khuyết, trông người người xa.

Ngày ngày ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ
Trông người người vẫn làm ngơ
Trông sao sao mờ, em biết trông ai!
Răng đen còn có khi phai
Má hồng khi nhạt, tóc dài khi thưa
Ở đây lấy đấy đương vừa
Người còn kén chọn hay lừa nơi nao?

THE END

Posted by: minhanhtran80 | 2009/10/14

Bộ Luật Hình Sự

Bộ Luật Hình Sự
Của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Số 15/1999/QH10

Sửa đổi bổ sung 2009/QH12 Ngày 19/6/2009

LỜI NÓI ĐẦU

Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Bộ luật hình sự này được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta, nhất là của Bộ luật hình sự năm 1985, cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong nhiều thập kỷ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bộ luật hình sự thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hoá, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm.

Thi hành nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự là nhiệm vụ chung của tất cả các cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân.

PHẦN CHUNG

CHƯƠNG I
ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN

Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự

Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội.

Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 3. Nguyên tắc xử lý

1. Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.

2. Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.

Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.

3. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.

4. Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.

5. Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

Điều 4. Trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

1. Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Toà án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.

2. Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

CHƯƠNG II
HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam trong những trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Điều 7. Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

3. Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

CHƯƠNG III
TỘI PHẠM

Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

4. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Điều 9. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Điều 10. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Điều 11. Sự kiện bất ngờ

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 13. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 14. Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 15. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 16. Tình thế cấp thiết

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 17. Chuẩn bị phạm tội

Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.

Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện.

Điều 18. Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Điều 19. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

Điều 21. Che giấu tội phạm

Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

Điều 22. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà , cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này.

CHƯƠNG IV
THỜI HIỆU TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ.
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Điều 23. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ.

Điều 24. Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 23 của Bộ luật này đối với các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này.

Điều 25. Miễn trách nhiệm hình sự

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

2. Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

3. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá.

CHƯƠNG V
HÌNH PHẠT

Điều 26. Khái niệm hình phạt

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.

Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định.

Điều 27. Mục đích của hình phạt

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Điều 28. Các hình phạt

Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung.

1. Hình phạt chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Cải tạo không giam giữ;

d) Trục xuất;

đ) Tù có thời hạn;

e) Tù chung thân;

g) Tử hình.

2. Hình phạt bổ sung bao gồm:

a) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

b) Cấm cư trú;

c) Quản chế;

d) Tước một số quyền công dân;

đ) Tịch thu tài sản;

e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

g) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

3. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Điều 29. Cảnh cáo

Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.

Điều 30. Phạt tiền

1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

2. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

3. Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng.

4. Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà án quyết định trong bản án.

Điều 31. Cải tạo không giam giữ

1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.

2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.

Điều 32. Trục xuất

Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trục xuất được Toà án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.

Điều 33. Tù có thời hạn

Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm.

Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.

Điều 34. Tù chung thân

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội.

Điều 35. Tử hình

Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.

Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Điều 36. Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó, thì có thể gây nguy hại cho xã hội.

Thời hạn cấm là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Điều 37. Cấm cư trú

Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định.

Thời hạn cấm cư trú là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Điều 38. Quản chế

Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 39 của Bộ luật này và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật này quy định.

Thời hạn quản chế là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Điều 39. Tước một số quyền công dân

1. Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định, thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:

a) Quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước;

b) Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

2. Thời hạn tước một số quyền công dân là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Điều 40. Tịch thu tài sản

Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ nhà nước. Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp do Bộ luật này quy định.

Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.

CHƯƠNG VI
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

Điều 41. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

1. Việc tịch thu, sung quỹ nhà nước được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;

c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.

2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước.

Điều 42. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi

1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

Điều 43. Bắt buộc chữa bệnh

1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại khỏan 1 Điều 13 của Bộ luật này, thì tùy theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh; nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa, thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt.

Điều 44. Thời gian bắt buộc chữa bệnh

Căn cứ vào kết luận của cơ sở điều trị, nếu người bị bắt buộc chữa bệnh quy định tại Điều 43 của Bộ luật này đã khỏi bệnh, thì tuỳ theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án xét và quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.

Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

CHƯƠNG VII
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

Điều 45. Căn cứ quyết định hình phạt

Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Điều 48. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

i) Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

k) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

n) Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

o) Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

2. Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Điều 49. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý.

Điều 50. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

1. Đối với hình phạt chính :

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.

2. Đối với hình phạt bổ sung:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

Điều 51. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này.

Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

2. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này.

3. Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Toà án ra quyết định tổng hợp các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Điều 52. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt đựơc quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Điều 53. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.

Điều 54. Miễn hình phạt

Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

CHƯƠNG VIII

THỜI HIỆU THI HÀNH BẢN ÁN, MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT, GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT

Điều 55. Thời hiệu thi hành bản án

1. Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.

2. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ ba năm trở xuống;

b) Mười năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

c) Mười lăm năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến ba mươi năm.

3. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người bị kết án lại phạm tội mới, thì thời gian đã qua không đựơc tính và thời hiệu tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ.

4. Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù ba mươi năm.

Điều 56. Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án

Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này.

Điều 57. Miễn chấp hành hình phạt

1. Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

2. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.

3. Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng đã được hoãn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật này, nếu trong thời gian được hoãn đã lập công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt.

4. Đối với người bị kết án phạt tù về tội ít nghiêm trọng đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

5. Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Điều 58. Giảm mức hình phạt đã tuyên

1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Người bị kết án phạt tù, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù, Toà án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, mười hai năm đối với tù chung thân.

2. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.

3. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên. Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống ba mươi năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là hai mươi năm.

4. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc hai mươi năm nếu là tù chung thân.

Điều 59. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt

Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Toà án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 58 của Bộ luật này.

Điều 60. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.

Điều 61. Hoãn chấp hành hình phạt tù

1. Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

a) Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;

b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;

c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến một năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;

d) Bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến một năm.

2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại phạm tội mới, thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.

Điều 62. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

1. Người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 của Bộ luật này, thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

2. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

CHƯƠNG IX
XÓA ÁN TÍCH

Điều 63. Xoá án tích

Người bị kết án được xoá án tích theo quy định tại các điều từ Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật này.

Người được xoá án tích coi như chưa bị kết án và được Toà án cấp giấy chứng nhận.

Điều 64. Đương nhiên được xoá án tích

Những người sau đây đương nhiên được xoá án tích:

1. Người được miễn hình phạt.

2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm.

Điều 65. Xoá án tích theo quyết định của Toà án

1. Toà án quyết định việc xoá án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án trong các trường hợp sau đây:

a) Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

b) Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

c) Đã bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

2. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa án tích.

Điều 66. Xoá án tích trong trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị, thì có thể được Toà án xoá án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định.

Điều 67. Cách tính thời hạn để xoá án tích

1. Thời hạn để xoá án tích quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

2. Nếu chưa được xoá án tích mà phạm tội mới, thì thời hạn để xoá án tích cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới.

3. Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.

4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.

CHƯƠNG X
NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Điều 68. Áp dụng Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này.

Điều 69. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

4. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.

5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.

Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội

Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

6. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

Điều 70. Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

1. Đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo dục, phòng ngừa sau đây:

a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

b) Đưa vào trường giáo dưỡng.

2. Toà án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng.

Người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Toà án giao trách nhiệm.

3. Toà án có thể áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ.

4. Nếu người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc người được đưa vào trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn do Toà án quyết định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, Toà án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời hạn ở trường giáo dưỡng.

Điều 71. Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:

1. Cảnh cáo;

2. Phạt tiền;

3. Cải tạo không giam giữ;

4. Tù có thời hạn.

Điều 72. Phạt tiền

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng.

Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.

Điều 73. Cải tạo không giam giữ

Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.

Điều 74. Tù có thời hạn

Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

Điều 75. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

1. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 của Bộ luật này;

2. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội.

Điều 76. Giảm mức hình phạt đã tuyên

1. Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có nhiều tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Toà án xét giảm; riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể giảm đến bốn năm nhưng phải bảo đảm đã chấp hành ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên.

2. Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

3. Người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.

Điều 77. Xoá án tích

1. Thời hạn để xoá án tích đối với người chưa thành niên là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 64 của Bộ luật này.

2. Người chưa thành niên phạm tội, nếu được áp dụng những biện pháp tư pháp quy định tại khoản 1 Điều 70 của Bộ luật này, thì không bị coi là có án tích.

PHẦN CÁC TỘI PHẠM

CHƯƠNG XI
CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA

Điều 78. Tội phản bội Tổ quốc

1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 80. Tội gián điệp

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;

c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự.

Điều 81. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ

Người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 82. Tội bạo loạn

Người nào hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 83. Tội hoạt động phỉ

Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà hoạt động vũ trang ở vùng rừng núi, vùng biển, vùng hiểm yếu khác, giết người, cướp phá tài sản, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 84. Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3. Phạm tội trong trường hợp đe doạ xâm phạm tính mạng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

4. Khủng bố người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo Điều này.

Điều 85. Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hoá, xã hội, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 86. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội, thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

Điều 87. Tội phá hoại chính sách đoàn kết

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;

b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;

d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 89. Tội phá rối an ninh

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 82 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 90. Tội chống phá trại giam

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá trại giam, tổ chức vượt trại giam, đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải hoặc trốn trại giam, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 91. Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân

1. Người nào trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

2. Người tổ chức, người cưỡng ép, người xúi giục thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 92. Hình phạt bổ sung

Người phạm tội quy định tại Chương này còn có thể bị tước một số quyền công dân từ một năm đến năm năm, phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

CHƯƠNG XII
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE,
NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI

Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 94. Tội giết con mới đẻ

Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 95. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

Điều 96. Tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.

Điều 97. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

1. Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 98. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 99. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

1. Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 100. Tội bức tử

1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội làm nhiều người tự sát thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

Điều 101. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

1. Người nào xúi giục làm người khác tự sát hoặc giúp người khác tự sát, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội làm nhiều người tự sát thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 102. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

1. Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;

b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 103. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Đối với trẻ em;

d) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 105. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm :

a) Đối với nhiều người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

Điều 106. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

Điều 107. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ

1. Người nào trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội đối với nhiều người thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 108. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 109. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 110. Tội hành hạ người khác

1. Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Đối với người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người tàn tật;

b) Đối với nhiều người.

Điều 111. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 112. Tội hiếp dâm trẻ em

1. Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Đối với nhiều người;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61%trở lên;

e) Biết mình bị nhiễm HIVmà vẫn phạm tội;

g) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 113. Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Cưỡng dâm nhiều lần;

c) Cưỡng dâm nhiều người;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười tám năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Cưỡng dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 114. Tội cưỡng dâm trẻ em

1. Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Đối với nhiều người;

d) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

đ) Biết mình bị nhiễm HIVmà vẫn phạm tội;.

e) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 115. Tội giao cấu với trẻ em

1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Điều 116. Tội dâm ô đối với trẻ em

1. Người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều trẻ em;

c) Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 117. Tội lây truyền HIV cho người khác

1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Đối với người chưa thành niên;

c) Đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình;

d) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Điều 118. Tội cố ý truyền HIV cho người khác

1. Người nào cố ý truyền HIV cho người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 117 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Đối với nhiều người;

c) Đối với người chưa thành niên;

d) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Lợi dụng nghề nghiệp.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 119. Tội mua bán người

1. Người nào mua bán người thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:

a) Vì mục đích mại dâm;

b) Có tổ chức;

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

d) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Để đưa ra nước ngoài;

e) Đối với nhiều người;

g) Phạm tội nhiều lần;

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 120. Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

1. Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Vì động cơ đê hèn;

d) Đối với nhiều trẻ em;

đ) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

e) Để đưa ra nước ngoài;

g) Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo;

h) Để sử dụng vào mục đích mại dâm;

i) Tái phạm nguy hiểm;

k) Gây hậu quả nghiêm trọng

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc phạt quản chế từ một năm đến năm năm.

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

CHƯƠNG XIII
CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN

Điều 123. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người thi hành công vụ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người.

3. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 124. Tội xâm phạm chỗ ở của công dân

1. Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 125. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác

1. Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 126. Tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân

1. Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 127. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử

1. Người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 128. Tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật

Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 129. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân

1. Người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện quyền hội họp, quyền lập hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 130. Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ

Người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 131. Tội xâm phạm quyền tác giả ( Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 đã quyết định bỏ điều luật này )

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm:

a) Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;

b) Mạo danh tác giả trên tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;

c) Sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;

d) Công bố, phổ biến bất hợp pháp tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 132. Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo;

b) Có trách nhiệm mà cố ý không chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.

2. Người nào trả thù người khiếu nại, tố cáo thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

CHƯƠNG XIV
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 134. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Đối với trẻ em;

e) Đối với nhiều người;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

h) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

i) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười tám năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 136. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Điều 137. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Hành hung để tẩu thoát;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Điều 141. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên hoặc cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá có giá trị đặc biệt, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 142. Tội sử dụng trái phép tài sản

1. Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu qủa đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Để che giấu tội phạm khác;

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

e) Tái phạm nguy hiểm;

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 144. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

1. Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản của Nhà nước từ một năm đến năm năm.

Điều 145. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

1. Người nào vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

CHƯƠNG XV
CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Điều 146. Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 148. Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn

Người nào có một trong các hành vi sau đây, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn;

b) Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó.

Điều 149. Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật

1. Người nào có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn biết rõ là người xin đăng ký không đủ điều kiện kết hôn mà vẫn đăng ký cho người đó, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 150. Tội loạn luân

Người nào giao cấu với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Điều 151. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình

Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 152. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

CHƯƠNG XVI
CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ

Điều 153. Tội buôn lậu

1. Người nào buôn bán trái phép qua biên giới thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này;

b) Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá;

c) Hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Vật phạm pháp có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

đ) Hàng cấm có số lượng rất lớn;

e) Thu lợi bất chính lớn;

g) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác;

h) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

i) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

k) Phạm tội nhiều lần;

l) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng;

b) Hàng cấm có số lượng đặc biệt lớn;

c) Thu lợi bất chính rất lớn;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp có giá trị từ một tỷ đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 154. Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới

1. Người nào vận chuyển trái phép qua biên giới thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 155, 156, 157, 158, 159, 160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này;

b) Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá, đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm;

c) Hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 155, 156, 157, 158, 159, 160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Vật phạm pháp có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Hàng cấm có số lượng rất lớn;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Phạm tội nhiều lần;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên hoặc hàng cấm có số lượng đặc biệt lớn, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 155. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

d) Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Hàng phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc thu lợi bất chính rất lớn;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 156. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả

1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng hoặc dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ một trăm năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

g) Thu lợi bất chính lớn;

h) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 157. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh

1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 158. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi

1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 156, 157, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

d) Hàng giả có số lượng rất lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội trong trường hợp hàng giả có số lượng đặc biệt lớn hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 159. Tội kinh doanh trái phép

1. Người nào kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật quy định phải có giấy phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm:

a) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 160, 161, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm;

b) Hàng phạm pháp có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

b) Mạo nhận một tổ chức không có thật;

c) Hàng phạm pháp có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

d) Thu lợi bất chính lớn.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 160. Tội đầu cơ

1. Người nào lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hóa có số lượng lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

d) Hàng đầu cơ có số lượng rất lớn;

đ) Thu lợi bất chính rất lớn;

e) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm:

a) Hàng đầu cơ có số lượng đặc biệt lớn;

b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 161. Tội trốn thuế

1. Người nào trốn thuế với số tiền từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ sáu trăm triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền trốn thuế.

Điều 162. Tội lừa dối khách hàng

1. Người nào trong việc mua, bán mà cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội nhiều lần hoặc thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 164. Tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả

1. Người nào làm, buôn bán các loại tem giả, vé giả với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Thu lợi bất chính lớn;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 164a. Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Hóa đơn, chứng từ có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

đ) Thu lợi bất chính lớn;

e) Tái phạm nguy hiểm;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 164b. Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

1. Người nào có trách nhiệm bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước mà vi phạm quy định của Nhà nước về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Điều 165. Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây thiệt hại từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác;

b) Có tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Gây thiệt hại từ ba trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội gây thiệt hại từ một tỷ đồng trở lên hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 166. Tội lập quỹ trái phép

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn lập quỹ trái phép có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng và đã sử dụng quỹ đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt để trốn tránh việc kiểm soát;

b) Để thực hiện tội phạm khác;

c) Quỹ trái phép có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười năm:

a) Quỹ trái phép có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Phạm tội trong trường hợp quỹ trái phép có giá trị từ một tỷ đồng trở lên, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 167. Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế

1. Người nào vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác mà báo cáo với cơ quan có thẩm quyền những số liệu, tài liệu rõ ràng không đúng sự thật gây hậu quả nghiêm trọng cho việc xây dựng hay thực hiện kế hoạch kinh tế – xã hội của Nhà nước hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 168. Tội quảng cáo gian dối

1. Người nào quảng cáo gian dối về hàng hoá, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 169. Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 170. Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào có thẩm quyền trong việc cấp văn bằng bảo hộ mà vi phạm quy định của pháp luật về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 170a. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm:

a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;

b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 171. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 172. Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên

1. Người nào vi phạm các quy định của Nhà nước về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên trong đất liền, hải đảo, nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và vùng trời của Việt Nam mà không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng.

Điều 173. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

1. Người nào lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ ba mươi triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng.

Điều 174. Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai

1. Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Đất có diện tích lớn hoặc có giá trị lớn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Đất có diện tích rất lớn hoặc có giá trị rất lớn;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Đất có diện tích đặc biệt lớn hoặc có giá trị đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 175. Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;

b) Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này.

2. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng.

Điều 176. Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng

1. Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật;

b) Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật;

c) Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 177. Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện

1. Người nào có trách nhiệm mà thực hiện một trong các hành vi sau đây, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Cắt điện không có căn cứ hoặc không thông báo theo quy định;

b) Từ chối cung cấp điện không có căn cứ;

c) Trì hoãn việc xử lý sự cố điện không có lý do chính đáng.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 178. Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng

1. Người nào có trách nhiệm mà dùng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ chia lợi tức cổ phần gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 179. Tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng

1. Người nào trong hoạt động tín dụng mà có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật;

b) Cho vay quá giới hạn quy định;

c) Hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc liên quan đến hoạt động tín dụng từ một năm đến năm năm.

Điều 180. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả

1. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 181. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác

1. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 181a. Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán

1. Người nào cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật liên quan đến việc chào bán, niêm yết, giao dịch, hoạt động kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký, lưu ký, bù trừ hoặc thanh toán chứng khoán gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ một trăm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính lớn;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 181b. Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán

1. Người nào biết được thông tin liên quan đến công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng đó mà sử dụng thông tin này để mua bán chứng khoán hoặc tiết lộ, cung cấp thông tin này hoặc tư vấn cho người khác mua bán chứng khoán trên cơ sở thông tin lớn, thì bị phạt tiền từ một trăm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 181c. Tội thao túng giá chứng khoán

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi thao túng giá chứng khoán sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ một trăm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Thông đồng để thực hiện việc mua bán chứng khoán nhằm tạo ra cung cầu giả tạo;

b) Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục mua bán.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính lớn;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

CHƯƠNG XVII
CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG

Điều 182. Tội gây ô nhiễm môi trường

1. Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Làm môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

“Điều 182a. Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại

1. Người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 182 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 182b. Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường

1. Người nào vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường để xảy ra sự cố môi trường hoặc vi phạm quy định về ứng phó sự cố môi trường làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 183. Tội gây ô nhiễm nguồn nước (( Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 đã quyết định bỏ điều luật này )

1. Người nào thải vào nguồn nước dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng độc hại và gây dịch bệnh hoặc các yếu tố độc hại khác, đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 184. Tội gây ô nhiễm đất ( Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 đã quyết định bỏ điều luật này )

1. Người nào chôn vùi hoặc thải vào đất các chất độc hại quá tiêu chuẩn cho phép, đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 185. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

1. Người nào lợi dụng việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất, chế phẩm sinh học hoặc bằng thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ hai trăm triệu đồng đến một tỷ đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Chất thải nguy hại có số lượng lớn hoặc chất thải khác có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một trăm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 186. Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người;

b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người;

c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 187. Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Đưa vào hoặc mang ra khỏi khu vực hạn chế lưu thông động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh;

b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật thuộc đối tượng kiểm dịch mà không thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm dịch;

c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 188. Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản

1. Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc một trong các trường hợp sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Sử dụng chất độc, chất nổ, các hoá chất khác, dòng điện hoặc các phương tiện, ngư cụ khác bị cấm để khai thác thuỷ sản hoặc làm huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản;

b) Khai thác thuỷ sản tại khu vực bị cấm, trong mùa sinh sản của một số loài hoặc vào thời gian khác mà pháp luật cấm;

c) Khai thác các loài thuỷ sản quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ;

d) Phá hoại nơi cư ngụ của các loài thuỷ sản quý hiếm được bảo vệ theo quy định của Chính phủ;

đ) Vi phạm các quy định khác về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ hai năm đến năm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 189. Tội huỷ hoại rừng

1. Người nào đốt, phá rừng trái phép rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Hủy hoại diện tích rừng rất lớn;

d) Chặt phá các loại thực vật quý hiếm thuộc danh mục quy định của Chính phủ;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn;

b) Hủy hoại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 190. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

1. Người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;

d) Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 191. Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên

1. Người nào vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Sử dụng công cụ, phương tiện, biện pháp bị cấm;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 191a. Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại

1. Người nào cố ý nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

CHƯƠNG XVIII
CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ

Điều 192. Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý

1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy, đã được giáo dục nhiều lần, đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống và đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Tái phạm tội này.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Điều 193. Tội sản xuất trái phép chất ma túy

1. Người nào sản xuất trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

e) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

g) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

h) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

i) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm h khoản 2 Điều này;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

c) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

d) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

đ) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít;

e) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm đ khoản 3 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

d) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

đ) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản 4 Điều này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này;

p) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 195. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Tiền chất có trọng lượng từ hai trăm gam đến dưới năm trăm gam;

e) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp tiền chất có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một nghìn hai trăm gam, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm.

4. Phạm tội trong trường hợp tiền chất có trọng lượng từ một nghìn hai trăm gam trở lên, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 196. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

e) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 197. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;

d) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;

d) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 198. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Đối với trẻ em;

d) Đối với nhiều người;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 199. Tội sử dụng trái phép chất ma túy ( Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 đã quyết định bỏ điều luật này )

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.

Điều 200. Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Vì động cơ đê hèn;

d) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;

e) Đối với nhiều người;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm :

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;

c) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Điều 201. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

1. Người nào có trách nhiệm trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, vận chuyển, bảo quản, phân phối, cấp phát, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác mà vi phạm quy định về quản lý, sử dụng các chất đó, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

4. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

CHƯƠNG XIX

CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 203.Tội cản trở giao thông đường bộ

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây cản trở giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ;

b) Đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ;

c) Tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ;

d) Mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có giải phân cách;

đ) Lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường;

e) Lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ;

g) Vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ;

h) Hành vi khác gây cản trở giao thông đường bộ.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Tại các đèo, dốc và đoạn đường nguy hiểm;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 204. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn

1. Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ rõ ràng không đảm bảo an toàn kỹ thuật gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 205. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 206. Tội tổ chức đua xe trái phép

1. Người nào tổ chức trái phép việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Tổ chức đua xe có quy mô lớn;

b) Tổ chức cá cược;

c) Tổ chức việc chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;

d) Tổ chức đua xe nơi tập trung đông dân cư;

đ) Tháo dỡ các thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;

e) Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác;

g) Tái phạm về tội này hoặc tội đua xe trái phép.

3. Phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 207. Tội đua xe trái phép

1. Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác;

b) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

c) Tham gia cá cược;

d) Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;

đ) Đua xe nơi tập trung đông dân cư;

e) Tháo dỡ các thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;

g) Tái phạm về tội này hoặc tội tổ chức đua xe trái phép.

3. Phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 208. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt

1. Người nào chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường sắt gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép, bằng hoặc chứng chỉ chuyên môn tương ứng với nhiệm vụ được giao;

b) Trong tình trạng dùng rượu, bia quá nồng độ quy định hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người chỉ huy hoặc người có thẩm quyền điều khiển, giữ gìn trật tự, an toàn giao thông đường sắt;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 209. Tội cản trở giao thông đường sắt

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây cản trở giao thông đường sắt gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Đặt chướng ngại vật trên đường sắt;

b) Làm xê dịch ray, tà vẹt;

c) Khoan, đào, xẻ trái phép nền đường sắt, mở đường trái phép qua đường sắt;

d) Làm hỏng, thay đổi, chuyển dịch, che khuất tín hiệu, biển hiệu, mốc hiệu của công trình giao thông đường sắt;

đ) Để súc vật đi qua đường sắt không theo đúng quy định hoặc để súc vật kéo xe qua đường sắt mà không có người điều khiển;

e) Đưa trái phép phương tiện tự tạo, phương tiện không được phép chạy lên đường sắt;

g) Lấn chiếm phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt;

h) Hành vi khác gây cản trở giao thông đường sắt.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 210. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường sắt không bảo đảm an toàn

1. Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường sắt mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường sắt rõ ràng không bảo đảm an toàn gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 211. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt

1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 212. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường thuỷ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép, bằng hoặc chứng chỉ chuyên môn tương ứng với nhiệm vụ được giao;

b) Trong tình trạng dùng rượu, bia quá nồng độ quy định hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người chỉ huy hoặc người có thẩm quyền điều khiển, giữ gìn trật tự, an toàn giao thông đường thuỷ;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 213. Tội cản trở giao thông đường thuỷ

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây cản trở giao thông đường thuỷ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Khoan, đào trái phép làm hư hại kết cấu của các công trình giao thông đường thuỷ;

b) Tạo ra chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường thuỷ mà không đặt và duy trì báo hiệu;

c) Di chuyển làm giảm hiệu lực, tác dụng của báo hiệu;

d) Tháo dỡ báo hiệu hoặc phá hoại công trình giao thông đường thuỷ;

đ) Lấn chiếm luồng hoặc hành lang bảo vệ luồng giao thông đường thuỷ;

e) Hành vi khác cản trở giao thông đường thủy.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 214. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thuỷ không bảo đảm an toàn

1. Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường thuỷ mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thuỷ rõ ràng không bảo đảm an toàn gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 215. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ

1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 216. Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay

1. Người nào chỉ huy, điều khiển tàu bay mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường không, có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 217. Tội cản trở giao thông đường không

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây cản trở giao thông đường không gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Đặt các chướng ngại vật cản trở giao thông đường không;

b) Di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất, hoặc phá huỷ các biển hiệu, tín hiệu an toàn giao thông đường không;

c) Sử dụng sai hoặc làm nhiễu các tần số thông tin liên lạc;

d) Cung cấp thông tin sai lạc gây nguy hiểm cho chuyến bay;

đ) Làm hư hỏng trang thiết bị của sân bay hoặc trang thiết bị phụ trợ khác;

e) Hành vi khác cản trở giao thông đường không.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Là người có trách nhiệm trực tiếp bảo đảm an toàn giao thông đường không hoặc trực tiếp quản lý các thiết bị an toàn giao thông đường không;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ năm triệu đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 218. Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không bảo đảm an toàn

1. Người nào có trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của các phương tiện giao thông đường không mà cho đưa vào sử dụng các phương tiện rõ ràng không bảo đảm an toàn kỹ thuật, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 219. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không

1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có bằng lái hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường không, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 220. Tội vi phạm quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông

1. Người nào có trách nhiệm trong việc duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không mà vi phạm các quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình đó gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 221. Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác nhằm chiếm đoạt tàu bay hoặc tàu thuỷ, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Có tổ chức;

b) Sử dụng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội làm chết người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

4. Người phạm tội còn bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 222. Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào điều khiển tàu bay vào hoặc ra khỏi Việt Nam mà vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 80 và Điều 81 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ một trăm triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ ba trăm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Phương tiện bay có thể bị tịch thu.

Điều 223. Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào điều khiển tàu thuỷ hay phương tiện hàng hải khác vào hoặc ra khỏi Việt Nam hoặc đi qua lãnh hải Việt Nam mà vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 80 và Điều 81 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ hai trăm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm trăm triệu đồng đến tám trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

4. Phương tiện hàng hải có thể bị tịch thu.

Điều 224. Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số

1. Người nào cố ý phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ an ninh, quốc phòng;

b) Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 225. Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 224 và Điều 226a của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Tự ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết bị số;

b) Ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số;

c) Hành vi khác cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ an ninh, quốc phòng;

b) Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 226. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 88 và Điều 253 của Bộ luật này;

b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;

c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet;

c) Thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 226a. Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác

1. Người nào cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Thu lợi bất chính lớn;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ an ninh, quốc phòng;

b) Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông;

c) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 226b. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

b) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

c) Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

d) Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 227. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người

1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 228. Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em

1. Người nào sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều trẻ em;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng.

Điều 229. Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào vi phạm quy định về xây dựng trong các lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, nghiệm thu công trình hay các lĩnh vực khác nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 220 của Bộ luật này gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Là người có chức vụ, quyền hạn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ tám năm đến hai mươi năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 230. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Gây hậu qủa nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 230a. Tội khủng bố

1. Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3. Phạm tội trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 230b. Tội tài trợ khủng bố

1. Người nào huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 231. Tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia

1. Người nào phá huỷ công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin – liên lạc, công trình điện, dẫn chất đốt, công trình thuỷ lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hoá và xã hội, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế từ một năm đến năm năm.

Điều 232. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Gây hậu qủa nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 233. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 234. Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ

1. Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chăn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 235. Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào được giao vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mà thiếu trách nhiệm để người khác sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 236. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Gây hậu qủa nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 237. Tội vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ

1. Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán chất phóng xạ, có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong trường hợp gây thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ của người khác, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu qủa rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu qủa đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 238. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất cháy, chất độc, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Gây hậu qủa nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 239. Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc

1. Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển hoặc mua bán chất cháy, chất độc gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 240. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến tám năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 241. Tội vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình điện

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Cho phép xây nhà, công trình hoặc tự ý xây nhà, công trình trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình điện;

b) Gây nổ, gây cháy, đốt rừng làm nương rẫy, làm đổ cây ảnh hưởng đến an toàn vận hành công trình điện;

c) Đào hố, đóng cọc, xây nhà lên hành lang bảo vệ đường cáp điện ngầm;

d) Thả neo tàu, thuyền trong hành lang bảo vệ đường cáp điện ngầm đặt ở lòng sông, lòng biển đã có thông báo hoặc biển báo.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 242. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác

1. Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 201 của Bộ luật này, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người khác hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt từ từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 243. Tội phá thai trái phép

1. Người nào thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người đó hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 244. Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm

1. Người nào chế biến, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người tiêu dùng, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 245. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách;

b) Có tổ chức;

c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

d) Xúi giục người khác gây rối;

đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 246. Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt

1. Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 247. Tội hành nghề mê tín, dị đoan

1. Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội làm chết người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 248. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 249. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 250. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm .

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp ;

c) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn;

d) Thu lợi bất chính lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị rất lớn;

b) Thu lợi bất chính rất lớn.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị đặc biệt lớn;

b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Điều 251. Tội rửa tiền

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó;

b) Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

c) Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

d) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn;

g) Thu lợi bất chính lớn;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm:

a) Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

b) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt tiền đến ba lần số tiền hoặc giá trị tài sản phạm tội, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 252. Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp

1. Người nào dụ dỗ, ép buộc người chưa thành niên hoạt động phạm tội, sống sa đoạ hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Dụ dỗ, ép buộc, chứa chấp, lôi kéo nhiều người;

c) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này, thì còn có thể bị phạt quản chế từ một năm đến năm năm.

Điều 253. Tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ

1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi truỵ, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

b) Phổ biến cho nhiều người;

c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

c) Đối với người chưa thành niên;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 254. Tội chứa mại dâm

1. Người nào chứa mại dâm thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Cưỡng bức mại dâm;

c) Phạm tội nhiều lần ;

d) Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế từ một năm đến năm năm.

Điều 255. Tội môi giới mại dâm

1. Người nào dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mại dâm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

b) Có tổ chức;

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

d) Phạm tội nhiều lần ;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Đối với nhiều người;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng.

Điều 256. Tội mua dâm người chưa thành niên

1. Người nào mua dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến tám năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Mua dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Phạm tội nhiều lần đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên.

4. Người phạm tội còn bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến mười triệu đồng.

CHƯƠNG XX
CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 257. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 259. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự

1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của mình;

b) Phạm tội trong thời chiến;

c) Lôi kéo người khác phạm tội.

Điều 260. Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ

1. Người nào là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của mình;

b) Lôi kéo người khác phạm tội.

Điều 261. Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong thời chiến thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 262. Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Người nào cố ý cản trở việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trong thời chiến, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 263. Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật nhà nước

1. Người nào cố ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 80 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 264. Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước, tội làm mất tài liệu bí mật nhà nước

1. Người nào vô ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc làm mất tài liệu bí mật nhà nước, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 265. Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc

Người nào giả mạo chức vụ, cấp bậc thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 266. Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức

1. Người nào sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Điều 268. Tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

1. Người nào chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ trái phép con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội không thuộc tài liệu bí mật nhà nước hoặc bí mật công tác, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 269. Tội không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính

Người nào cố ý không chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính mặc dù đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 270. Tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở

1. Người nào chiếm dụng chỗ ở, xây dựng nhà trái phép, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Nhà ở, công trình xây dựng trái phép có thể bị dỡ bỏ, trưng mua hoặc tịch thu.

2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Điều 271. Tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hĩnh, băng hình hoặc các ấn phẩm khác

1. Người nào vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 272. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 273. Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới

1. Người nào vi phạm quy định về cư trú, đi lại hoặc các quy định khác về khu vực biên giới, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Tái phạm hoặc phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 274. Tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tội ở lại Việt Nam trái phép

Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 275. Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

1. Người nào tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 91 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

Điều 276. Tội xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy

Người nào cố ý xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

CHƯƠNG XXI
CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

Điều 277. Khái niệm tội phạm về chức vụ

Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ.

Người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ .

MỤC A
CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG

Điều 278. Tội tham ô tài sản

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 279. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 280. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Điều 281. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 282. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 283. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng:

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền hoặc giá trị tài sản đã trục lợi.

Điều 284. Tội giả mạo trong công tác

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;

b) Làm, cấp giấy tờ giả;

c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

MỤC B
CÁC TỘI PHẠM KHÁC VỀ CHỨC VỤ

Điều 285. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 286. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác

1. Người nào cố ý làm lộ bí mật công tác hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 80 và Điều 263 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 287. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác

1. Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 264 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 288. Tội đào nhiệm

1. Người nào là cán bộ, công chức mà cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Lôi kéo người khác đào nhiệm;

b) Phạm tội trong hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai hoặc trong những trường hợp khó khăn đặc biệt khác của xã hội;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 289. Tội đưa hối lộ

1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.

6. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Điều 290. Tội làm môi giới hối lộ

1. Người nào làm môi giới hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.

6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Điều 291. Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi

1. Người nào trực tiếp hoặc qua trung gian nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền hoặc giá trị tài sản đã trục lợi.

CHƯƠNG XXII
CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

Điều 292. Khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Điều 293. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội

1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

b ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 294. Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 295. Tội ra bản án trái pháp luật

1. Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 296. Tội ra quyết định trái pháp luật

1. Người nào có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 297. Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm, xảo quyệt khác;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 298. Tội dùng nhục hình

1. Người nào dùng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 299. Tội bức cung

1. Người nào tiến hành điều tra, truy tố, xét xử mà bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 300. Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án

1. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự nào mà thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 301. Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn

1. Người nào trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ mà thiếu trách nhiệm để người đó trốn gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội để người bị giam, giữ về một tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trốn hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 302. Tội tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 303. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 304. Tội không chấp hành án

Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 305. Tội không thi hành án

1. Người nào có thẩm quyền mà cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 306. Tội cản trở việc thi hành án

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a ) Có tổ chức;

b ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 307. Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật

1. Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng nào mà kết luận, dịch, khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 308. Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu

1. Người nào từ chối khai báo nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 22 của Bộ luật này hoặc trốn tránh việc khai báo, việc kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm .

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 309. Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật

1. Người nào mua chuộc hoặc cưỡng ép người làm chứng, người bị hại khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, người giám định kết luận gian dối, người phiên dịch dịch xuyên tạc, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm .

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm khác;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Điều 310. Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản

1. Người nào được giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong mà có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Phá huỷ niêm phong;

b) Tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Điều 311. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử

1. Người nào đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a ) Có tổ chức;

b ) Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải.

Điều 312. Tội đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử

1. Người nào đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 90 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm :

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải;

d) Đánh tháo người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc người bị kết án tử hình;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 313. Tội che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

– Các điều từ Điều 78 đến Điều 91 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

– Điều 93 (tội giết người); Điều 111, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điều 116, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với trẻ em); Điều 119, khoản 2 (tội mua bán người);

– Điều 120 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em);

– Điều 133 (tội cướp tài sản); Điều 134 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 138, các khoản 2, 3 và 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 139, các khoản 2, 3 và 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 140, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 143, các khoản 2, 3 và 4 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

– Điều 153, các khoản 3 và 4 (tội buôn lậu); Điều 154, khoản 3 (tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới); Điều 155, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm); Điều 156, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 157 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 158, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 160, các khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 165, các khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 166, các khoản 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép); Điều 179, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả); Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 189, các khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại rừng);

– Điều 193 (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 194 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý); Điều 195 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 196, khoản 2 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 197 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 198 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 200 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 201, các khoản 2, 3 và 4 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác);

– Điều 206, các khoản 2, 3 và 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 221 (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ); Điều 230 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 230a (tội khủng bố); Điều 231 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 232, các khoản 2, 3 và 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 236, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc);

– Điều 256, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người chưa thành niên);

– Điều 278, các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài sản); Điều 279, các khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 281, các khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 282, các khoản 2 và 3 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 283, các khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 284, các khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 289, các khoản 2, 3 và 4 (tội đưa hối lộ); Điều 290, các khoản 2, 3 và 4 (tội làm môi giới hối lộ);

– Điều 311 khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử);

– Các điều từ Điều 341 đến Điều 344 về các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

CHƯƠNG XXIII
CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN

Điều 315. Những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm do mình thực hiện được quy định tại Chương này.

Điều 316. Tội chống mệnh lệnh

1. Người nào chống mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Dùng vũ lực;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự, trong trường hợp đặc biệt khác hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 317. Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh

1. Người nào chấp hành mệnh lệnh một cách lơ là, chậm trễ, tuỳ tiện gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự, trong trường hợp đặc biệt khác hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

Điều 318. Tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm

1. Người nào cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:

a) Lôi kéo người khác phạm tội;

b) Dùng vũ lực;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Điều 319. Tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên

1. Người nào trong quan hệ công tác mà xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc hành hung người chỉ huy hay cấp trên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 320. Tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới

1. Người nào trong quan hệ công tác mà xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 321. Tội làm nhục, hành hung đồng đội

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc hành hung đồng đội, nếu giữa họ không có quan hệ công tác thuộc trường hợp quy định tại Điều 319 và Điều 320 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiệm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 322. Tội đầu hàng địch

1. Người nào trong chiến đấu mà đầu hàng địch, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Giao nộp cho địch vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng;

c) Lôi kéo người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 323. Tội khai báo hoặc tự nguyện làm vịêc cho địch khi bị bắt làm tù binh

1. Người nào khi bị địch bắt làm tù binh mà khai báo bí mật quân sự hoặc tự nguyện làm việc cho địch, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Đối xử tàn ác với tù binh khác;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 324. Tội bỏ vị trí chiến đấu

1. Người nào bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Bỏ vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng;

c) Lôi kéo người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 325. Tội đào ngũ

1. Người nào rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc trong thời chiến, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến tám năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Mang theo, vứt bỏ vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

Điều 326. Tội trốn tránh nhiệm vụ

1. Người nào tự gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của mình hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác để trốn tránh nhiệm vụ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Phạm tội trong thời chiến;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Điều 327. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự

1. Người nào cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 80 và Điều 263 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 328. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự

1. Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 264 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 329. Tội báo cáo sai

1. Người nào cố ý báo cáo sai gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 330. Tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban

1. Người nào không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ trực chiến, trực chỉ huy, trực ban gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội trong chiến đấu hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 331. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ

1. Người nào không chấp hành nghiêm chỉnh những quy định về tuần tra, canh gác, áp tải, hộ tống gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội trong chiến đấu hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 332. Tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện

1. Người nào không chấp hành nghiêm chỉnh những quy định bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 333. Tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng

1. Người nào vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội trong khu vực có chiến sự hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 334. Tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 và Điều 231 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 335. Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào được giao quản lý, được trang bị vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ 3thuật quân sự mà làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

Điều 336. Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu

1. Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người nào chiếm đoạt di vật của tử sĩ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 337. Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm

1. Người nào trong chiến đấu hoặc khi thu dọn chiến trường mà chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến tám năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Chiến lợi phẩm có giá trị lớn hoặc rất lớn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội trong trường hợp chiến lợi phẩm có giá trị đặc biệt lớn hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

Điều 338. Tội quấy nhiễu nhân dân

1. Người nào có hành vi quấy nhiễu nhân dân đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Phạm tội trong khu vực có chiến sự hoặc trong khu vực đã có lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 339. Tội lạm dụng nhu cầu quân sự trong khi thực hiện nhiệm vụ

1. Người nào trong khi thực hiện nhiệm vụ mà vượt quá phạm vi cần thiết của nhu cầu quân sự gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của Nhà nước, của tổ chức, công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

Điều 340. Tội ngược đãi tù binh, hàng binh

Người nào ngược đãi tù binh, hàng binh, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

CHƯƠNG XXIV

CÁC TỘI PHÁ HOẠI HÒA BÌNH, CHỐNG LOÀI NGƯỜI
VÀ TỘI PHẠM CHIẾN TRANH

Điều 341. Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược

Người nào tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh xâm lược nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ một nước khác, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 342. Tội chống loài người

Người nào trong thời bình hay trong chiến tranh mà có hành vi tiêu diệt hàng loạt dân cư của một khu vực, phá hủy nguồn sống, phá hoại cuộc sống văn hóa, tinh thần của một nước, làm đảo lộn nền tảng của một xã hội nhằm phá hoại xã hội đó, cũng như có những hành vi diệt chủng khác hoặc những hành vi diệt sinh, diệt môi trường tự nhiên, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 343. Tội phạm chiến tranh

Người nào trong thời kỳ chiến tranh mà ra lệnh hoặc trực tiếp tiến hành việc giết hại dân thường, người bị thương, tù binh, cướp phá tài sản, tàn phá các nơi dân cư, sử dụng các phương tiện hoặc phương pháp chiến tranh bị cấm, cũng như có những hành vi khác vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế hoặc các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 344. Tội tuyển mộ lính đánh thuê; tội làm lính đánh thuê

1. Người nào tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê nhằm chống lại một nước bạn của Việt Nam hoặc một phong trào giải phóng dân tộc, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

2. Người nào làm lính đánh thuê, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999.

Posted by: minhanhtran80 | 2009/10/14

LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

LUẬT

BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 3, SỐ 17/2008/QH12

NGÀY 03 THÁNG 06 NĂM 2008

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.

2. Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

Điều 2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

4. Nghị định của Chính phủ.

5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

7. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

8. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

9. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.

10. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội.

11. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

12. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.

Điều 3. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

2. Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3. Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

4. Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật.

5. Không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 4. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức khác, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

2. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia góp ý kiến về dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản.

3. Ý kiến tham gia về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo.

Điều 5. Ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật

1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt.

Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.

2. Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác.

3. Văn bản quy phạm pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng thì tùy theo nội dung có thể được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; đối với văn bản có phạm vi điều chỉnh hẹp thì bố cục theo các điều, khoản, điểm. Các phần, chương, mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề. Không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.

Điều 6. Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài

1. Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài.

2. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài do Chính phủ quy định.

Điều 7. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật

1. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật phải thể hiện rõ số thứ tự, năm ban hành, loại văn bản, cơ quan ban hành văn bản.

2. Việc đánh số thứ tự của văn bản quy phạm pháp luật phải theo từng loại văn bản và năm ban hành. Đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thì đánh số thứ tự theo từng loại văn bản và nhiệm kỳ của Quốc hội.

3. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp như sau:

a) Số, ký hiệu của luật, nghị quyết của Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;

b) Số, ký hiệu của pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;

c) Số, ký hiệu của các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này được sắp xếp theo thứ tự như sau: “số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của loại văn bản-tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản”.

Điều 8. Văn bản quy định chi tiết

1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi văn bản đó có hiệu lực thì thi hành được ngay; trường hợp trong văn bản có điều, khoản mà nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, những vấn đề chưa có tính ổn định cao thì ngay tại điều, khoản đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp.

2. Văn bản quy định chi tiết phải quy định cụ thể, không lặp lại quy định của văn bản được quy định chi tiết và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.

3. Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết về nhiều nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật thì ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung đó, trừ trường hợp cần phải quy định trong các văn bản khác nhau.

Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì có thể ban hành một văn bản để quy định chi tiết.

Điều 9. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

2. Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới ngay trong văn bản mới đó; trong trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ trong văn bản đó danh mục văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực.

3. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành.

Điều 10. Gửi, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giám sát, kiểm tra.

2. Hồ sơ dự án, dự thảo và bản gốc của văn bản quy phạm pháp luật phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Chương II

NỘI DUNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 11. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

1. Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp.

Việc soạn thảo, thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định.

2. Luật của Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân.

3. Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; phê chuẩn điều ước quốc tế và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Điều 12. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

1. Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành luật.

2. Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Điều 13. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.

Điều 14. Nghị định của Chính phủ

Nghị định của Chính phủ được ban hành để quy định các vấn đề sau đây:

1. Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

2. Quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ;

3. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;

4. Quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 15. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quy định các vấn đề sau đây:

1. Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

2. Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Điều 16. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để quy định các vấn đề sau đây:

1. Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

2. Quy định về quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế – kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách;

3. Quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề khác do Chính phủ giao.

Điều 17. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật.

Điều 18. Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1. Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao được ban hành để thực hiện việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương và Toà án quân sự về tổ chức; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

2. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để quy định các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 19. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước

Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước được ban hành để quy định, hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán nhà nước; quy định cụ thể quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán.

Điều 20. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch

1. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị – xã hội đó tham gia quản lý nhà nước.

2. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.

3. Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ đó.

Điều 21. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được ban hành theo nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.

Chương III

XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI,
UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Mục 1

LẬP CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH

Điều 22. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

2. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm.

3. Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội tại kỳ họp thứ hai của mỗi khoá Quốc hội; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm tại kỳ họp thứ nhất của năm trước.

Điều 23. Đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh

1. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật quy định tại Điều 87 của Hiến pháp gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; đại biểu Quốc hội gửi kiến nghị về luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản; báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản; thời gian dự kiến đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua.

Kiến nghị về luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản.

2. Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trình Ủy ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở đề xuất của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

3. Chính phủ xem xét, thảo luận về đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

a) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

b) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

c) Chính phủ thảo luận;

d) Chính phủ biểu quyết thông qua đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Điều 24. Thời hạn gửi đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh

1. Chậm nhất vào ngày 01 tháng 3 của năm trước, đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh phải được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm, đồng thời được gửi đến Uỷ ban pháp luật để thẩm tra.

Chậm nhất vào ngày 01 tháng 8 của năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội, đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh phải được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội, đồng thời được gửi đến Uỷ ban pháp luật để thẩm tra.

2. Trước khi gửi đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội phải gửi đề nghị, kiến nghị của mình đến Chính phủ để Chính phủ phát biểu ý kiến.

Điều 25. Thẩm tra đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh

1. Uỷ ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, chính sách cơ bản của văn bản, tính đồng bộ, tính khả thi, thứ tự ưu tiên, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thi hành văn bản.

2. Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban pháp luật trong việc thẩm tra đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh và phát biểu ý kiến về sự cần thiết ban hành, thứ tự ưu tiên ban hành văn bản thuộc lĩnh vực do mình phụ trách.

Điều 26. Lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

a) Đại diện Chính phủ trình bày tờ trình đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Đại diện cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội phát biểu ý kiến về đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh của mình;

b) Đại diện Uỷ ban pháp luật trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Đại biểu tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận;

đ) Đại diện Chính phủ, đại diện cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội có đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh trình bày bổ sung những vấn đề được nêu ra tại phiên họp;

e) Chủ tọa phiên họp kết luận.

2. Căn cứ vào đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Hồ sơ dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh gồm có tờ trình và dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Quốc hội.

3. Uỷ ban pháp luật chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Điều 27. Trình tự xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Quốc hội xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

a) Đại diện Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình bày tờ trình về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

b) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh có thể được thảo luận ở tổ đại biểu Quốc hội;

c) Sau khi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Uỷ ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết;

d) Uỷ ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

đ) Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

2. Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ tên dự án, dự thảo; đối với nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm còn phải nêu rõ thời gian dự kiến trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án, dự thảo đó.

Điều 28. Triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm chỉ đạo và triển khai việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thông qua các hoạt động sau đây:

a) Phân công cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết; cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan tham gia thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

Trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội thì Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra hoặc thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra.

Trong trường hợp Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra;

b) Thành lập Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này;

c) Quyết định tiến độ xây dựng dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và các biện pháp cụ thể để bảo đảm việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

2. Uỷ ban pháp luật có trách nhiệm giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

3. Bộ Tư pháp có trách nhiệm dự kiến cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo để trình Chính phủ quyết định và giúp Chính phủ đôn đốc việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình.

Điều 29. Điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thực hiện theo quy định tại các điều 23, 24 và 25 của Luật này.

Mục 2

SOẠN THẢO LUẬT, NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, PHÁP LỆNH,

NGHỊ QUYẾT CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Điều 30. Thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo

1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo trong những trường hợp sau đây:

a) Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực;

b) Dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình;

c) Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do đại biểu Quốc hội trình. Thành phần Ban soạn thảo do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của đại biểu Quốc hội.

2. Trường hợp dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình thì Chính phủ giao cho một bộ hoặc cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo; cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo.

3. Trường hợp dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do cơ quan khác, tổ chức trình thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo và chủ trì soạn thảo.

Điều 31. Thành phần Ban soạn thảo

1. Ban soạn thảo gồm Trưởng ban là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và các thành viên khác là đại diện lãnh đạo cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Đối với Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình thì thành phần Ban soạn thảo còn có các thành viên là đại diện lãnh đạo Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ. Ban soạn thảo phải có ít nhất là chín người.

2. Thành viên Ban soạn thảo phải là người am hiểu các vấn đề chuyên môn liên quan đến dự án, dự thảo và có điều kiện tham gia đầy đủ các hoạt động của Ban soạn thảo.

Điều 32. Nhiệm vụ của Ban soạn thảo, Trưởng ban soạn thảo

1. Ban soạn thảo có trách nhiệm tổ chức việc soạn thảo và chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.

2. Ban soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:

a) Xem xét, thông qua đề cương dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;

b) Thảo luận về chính sách cơ bản và những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo;

c) Thảo luận về dự thảo văn bản, tờ trình, bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo; về nội dung giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

d) Bảo đảm các quy định của dự thảo văn bản phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của văn bản.

3. Trưởng Ban soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:

a) Thành lập Tổ biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo và chỉ đạo Tổ biên tập chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo văn bản;

b) Tổ chức các cuộc họp và các hoạt động khác của Ban soạn thảo.

Điều 33. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo

1. Tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án, dự thảo. Trong trường hợp cần thiết, đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan tổng kết, đánh giá việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách có liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo.

2. Tổ chức đánh giá tác động và xây dựng báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản. Nội dung của báo cáo đánh giá tác động phải nêu rõ các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từng vấn đề đó; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp.

3. Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến dự án, dự thảo. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến dự án, dự thảo.

4. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan về dự án, dự thảo; tổng hợp và nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý.

5. Nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc ý kiến tham gia của Chính phủ đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình.

6. Chuẩn bị dự thảo, tờ trình, bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân; báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản và đăng tải các tài liệu này trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.

7. Chuẩn bị những nội dung cơ bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo do Chính phủ trình để báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.

8. Kiến nghị phân công cơ quan soạn thảo văn bản quy định chi tiết các điều, khoản, điểm của dự thảo.

9. Bảo đảm điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo, Tổ biên tập.

Trường hợp dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội trình thì Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập.

Điều 34. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có nhiệm vụ sau đây:

a) Chỉ đạo Ban soạn thảo trong quá trình soạn thảo; đối với dự án, dự thảo do Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ trình thì chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo;

b) Xem xét, quyết định việc trình Quốc hội dự án luật, dự thảo nghị quyết, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Trong trường hợp chưa thể trình dự án, dự thảo theo đúng tiến độ của chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thì phải kịp thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định và nêu rõ lý do.

2. Trường hợp dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì chậm nhất là bốn mươi ngày, trước ngày khai mạc phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ dự án, dự thảo đến Chính phủ để Chính phủ tham gia ý kiến.

3. Hồ sơ dự án, dự thảo gửi Chính phủ tham gia ý kiến bao gồm:

a) Tờ trình về dự án, dự thảo;

b) Dự thảo văn bản;

c) Bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo và báo cáo đánh giá tác động của dự án, dự thảo;

d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án, dự thảo;

đ) Tài liệu khác (nếu có).

Điều 35. Lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Trong quá trình soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

2. Việc lấy ý kiến có thể bằng hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo để góp ý, tổ chức hội thảo, thông qua Trang thông tin điện tử của Chính phủ, của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng.

3. Cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về dự án, dự thảo; trong đó, Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn nhân lực, Bộ Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm góp ý kiến về tác động đối với môi trường, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm góp ý kiến về sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

4. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý.

Điều 36. Thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình

1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Chính phủ.

Đối với dự án, dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học.

2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

a) Tờ trình Chính phủ về dự án, dự thảo;

b) Dự thảo văn bản;

c) Bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo và báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản;

d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án, dự thảo;

đ) Bản tổng hợp ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân về nội dung dự án, dự thảo; bản sao ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý về dự án, dự thảo;

e) Tài liệu khác (nếu có).

3. Cơ quan thẩm định tiến hành thẩm định tập trung vào những vấn đề sau đây:

a) Sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo văn bản;

b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng;

c) Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

d) Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện;

đ) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo về những vấn đề liên quan đến nội dung dự án, dự thảo.

4. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý hoàn thiện dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Chính phủ.

Điều 37. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Chính phủ

1. Tờ trình Chính phủ về dự án, dự thảo.

2. Dự thảo văn bản.

3. Bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo và báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản.

4. Báo cáo thẩm định, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định, bản tổng hợp ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân về dự án, dự thảo.

5. Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án, dự thảo.

6. Tài liệu khác (nếu có).

Điều 38. Chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Chính phủ

Trong trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ triệu tập cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan để giải quyết trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo để trình Chính phủ.

Điều 39. Chính phủ thảo luận, xem xét quyết định việc trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Chính phủ có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể, biểu quyết theo đa số để quyết định việc trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

2. Văn phòng Chính phủ chuẩn bị những nội dung cơ bản, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo để báo cáo Chính phủ thảo luận.

3. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án, dự thảo, Chính phủ có thể xem xét, thảo luận tại một hoặc một số phiên họp của Chính phủ theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;

b) Đại diện Văn phòng Chính phủ trình bày những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về dự án, dự thảo;

c) Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Chính phủ thảo luận;

đ) Chính phủ biểu quyết về việc trình dự án, dự thảo.

4. Trong trường hợp Chính phủ chưa thông qua việc trình dự án, dự thảo thì Thủ tướng Chính phủ ấn định thời gian xem xét lại dự án, dự thảo. Căn cứ vào ý kiến của thành viên Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan chỉnh lý dự án, dự thảo.

Tại phiên họp tiếp theo, Chính phủ thảo luận về dự án, dự thảo theo trình tự sau đây:

a) Cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo Chính phủ về nội dung chỉnh lý;

b) Chính phủ thảo luận và biểu quyết về việc trình dự án, dự thảo.

Điều 40. Chính phủ tham gia ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình

1. Chính phủ có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án, dự thảo.

2. Bộ, cơ quan ngang bộ được Thủ tướng Chính phủ phân công chuẩn bị ý kiến chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp dự kiến những nội dung cần tham gia ý kiến để trình Chính phủ xem xét, quyết định.

Mục 3

THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT, PHÁP LỆNH, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT

Điều 41. Thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội

1. Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến phải được Hội đồng dân tộc, Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra (sau đây gọi chung là cơ quan thẩm tra).

Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực do mình phụ trách và dự án, dự thảo khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

2. Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời đại diện cơ quan được phân công tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra để phát biểu ý kiến về những nội dung của dự án, dự thảo liên quan đến lĩnh vực do cơ quan đó phụ trách và những vấn đề khác thuộc nội dung của dự án, dự thảo.

3. Cơ quan chủ trì thẩm tra có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản tham dự cuộc họp do mình tổ chức để phát biểu ý kiến về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo.

4. Cơ quan thẩm tra có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo báo cáo về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo; tự mình hoặc cùng cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tổ chức hội thảo, khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu và đáp ứng các yêu cầu khác của cơ quan thẩm tra.

Điều 42. Hồ sơ và thời hạn gửi hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để thẩm tra

1. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để thẩm tra bao gồm:

a) Tờ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo;

b) Dự thảo văn bản;

c) Bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo và báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản;

d) Báo cáo thẩm định đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình; ý kiến của Chính phủ đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình; bản tổng hợp ý kiến góp ý về dự án, dự thảo;

đ) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án, dự thảo;

e) Tài liệu khác (nếu có).

2. Đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm tra.

Đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội thì chậm nhất là ba mươi ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm tra.

Điều 43. Nội dung thẩm tra

Cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau đây:

1. Phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản;

2. Nội dung của dự thảo văn bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

3. Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, với Hiến pháp, pháp luật và tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật;

4. Tính khả thi của các quy định trong dự thảo văn bản.

Điều 44. Phương thức thẩm tra

1. Cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra; đối với dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến thì có thể tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng, Thường trực Uỷ ban để thẩm tra sơ bộ.

2. Trong trường hợp dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được giao cho nhiều cơ quan phối hợp thẩm tra thì việc thẩm tra có thể được tiến hành bằng một trong các phương thức sau đây:

a) Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên họp thẩm tra với sự tham gia của đại diện cơ quan tham gia thẩm tra;

b) Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên họp thẩm tra với Thường trực cơ quan tham gia thẩm tra.

Điều 45. Báo cáo thẩm tra

1. Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại Điều 43 của Luật này, đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

2. Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ trì thẩm tra, đồng thời phải phản ánh ý kiến của các cơ quan tham gia thẩm tra.

Điều 46. Trách nhiệm của Ủy ban pháp luật trong việc thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật

1. Uỷ ban pháp luật có trách nhiệm tham gia thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do các cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra với hệ thống pháp luật trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua.

2. Ủy ban pháp luật tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy ban để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

3. Nội dung tham gia thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật bao gồm:

a) Sự phù hợp của quy định trong dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội với quy định của Hiến pháp; quy định trong dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

b) Sự thống nhất về nội dung giữa quy định trong dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội với luật, nghị quyết của Quốc hội; giữa quy định trong dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giữa các quy định trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; sự thống nhất về kỹ thuật văn bản.

4. Khi gửi hồ sơ theo quy định tại Điều 42 của Luật này, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải đồng thời gửi hồ sơ đến Uỷ ban pháp luật.

Điều 47. Trách nhiệm của Ủy ban về các vấn đề xã hội trong việc thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Uỷ ban về các vấn đề xã hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra khi dự án, dự thảo đó có nội dung liên quan đến bình đẳng giới.

2. Ủy ban về các vấn đề xã hội tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy ban để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

3. Nội dung thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới của dự án, dự thảo được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật bình đẳng giới.

4. Khi gửi hồ sơ theo quy định tại Điều 42 của Luật này, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải đồng thời gửi hồ sơ đến Uỷ ban về các vấn đề xã hội.

Mục 4
UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI XEM XÉT, CHO Ý KIẾN VỀ

DỰ ÁN LUẬT, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI

Điều 48. Thời hạn Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội

Chậm nhất là bảy ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để cho ý kiến.

Dự thảo văn bản, tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Quốc hội.

Điều 49. Trình tự Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội

1. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến một lần hoặc nhiều lần.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về nội dung cơ bản của dự án, dự thảo;

b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra, kiến nghị những vấn đề trình ra Quốc hội tập trung thảo luận;

c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận;

đ) Chủ tọa phiên họp kết luận.

Điều 50. Việc tiếp thu và chỉnh lý dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội theo ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

1. Trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự án, dự thảo.

Đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình thì người được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền trình có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự án, dự thảo, trừ trường hợp cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

2. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội có ý kiến khác với ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

Mục 5

THẢO LUẬN, TIẾP THU, CHỈNH LÝ VÀ THÔNG QUA DỰ ÁN

LUẬT, PHÁP LỆNH, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT

Điều 51. Xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hội.

Đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và dự án, dự thảo trình Quốc hội xem xét, thông qua tại một kỳ họp thì chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo phải được gửi đến đại biểu Quốc hội.

Đối với dự án, dự thảo đã được tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp trước và được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp sau thì chậm nhất là bốn mươi lăm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm gửi lấy ý kiến đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thảo luận, góp ý kiến bằng văn bản và gửi về Văn phòng Quốc hội chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một hoặc hai phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo phải được gửi đến các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Hồ sơ dự án, dự thảo trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội bao gồm các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo.

Dự thảo văn bản, tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Quốc hội.

Điều 52. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp của Quốc hội

Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp theo trình tự sau đây:

1. Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;

2. Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

3. Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản, những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án, dự thảo có thể được thảo luận ở tổ đại biểu Quốc hội;

4. Trong quá trình thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo giải trình về những vấn đề liên quan đến dự án, dự thảo mà đại biểu Quốc hội nêu;

5. Đối với những vấn đề quan trọng của dự án, dự thảo và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Đoàn thư ký kỳ họp và cơ quan, tổ chức hữu quan giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo trình Quốc hội biểu quyết;

6. Sau khi dự án, dự thảo được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình tự sau đây:

a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Uỷ ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và xây dựng báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

b) Chậm nhất là năm ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Uỷ ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Uỷ ban pháp luật chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật;

7. Uỷ ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác với nội dung đã được chỉnh lý trong dự thảo thì ý kiến đó phải được nêu rõ trong báo cáo;

8. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp vẫn còn những vấn đề có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu quyết về những vấn đề đó theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

9. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.

Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì việc chỉnh lý và thông qua dự thảo được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 53 của Luật này.

Điều 53. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp của Quốc hội

Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp theo trình tự sau đây:

1. Tại kỳ họp thứ nhất:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;

b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản, những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án, dự thảo có thể được thảo luận ở tổ đại biểu Quốc hội.

Trong quá trình thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có trách nhiệm giải trình về những vấn đề liên quan đến dự án, dự thảo mà đại biểu Quốc hội nêu;

d) Đối với những vấn đề quan trọng của dự án, dự thảo và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Đoàn thư ký kỳ họp và cơ quan, tổ chức hữu quan giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo trình Quốc hội biểu quyết;

đ) Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Đoàn thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và kết quả biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

2. Trong thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình tự sau đây:

a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Uỷ ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và xây dựng dự thảo báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo. Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên họp thường trực hoặc phiên họp toàn thể để thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;

b) Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thảo luận về báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;

c) Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi dự thảo đã được chỉnh lý để lấy ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;

d) Cơ quan chủ trì thẩm tra tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và hoàn thiện báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội;

3. Tại kỳ họp thứ hai:

a) Đại diện Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình bày báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác với nội dung đã được chỉnh lý trong dự thảo thì ý kiến đó phải được nêu rõ trong báo cáo;

b) Quốc hội thảo luận về những nội dung còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo;

c) Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

d) Chậm nhất là năm ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Uỷ ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Uỷ ban pháp luật chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật;

đ) Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp vẫn còn những vấn đề có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu quyết về những vấn đề đó theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

e) Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.

Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì việc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Điều 54. Trình tự xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một phiên họp theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;

b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận, chủ tọa phiên họp kết luận;

đ) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Uỷ ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

e) Chậm nhất là ba ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Uỷ ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Uỷ ban pháp luật chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật;

g) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác với nội dung đã được chỉnh lý trong dự thảo thì ý kiến đó phải được nêu rõ trong báo cáo;

h) Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp vẫn còn những vấn đề có ý kiến khác nhau thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về những vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

i) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại hai phiên họp theo trình tự sau đây:

a) Tại phiên họp thứ nhất, việc trình và thảo luận được thực hiện theo trình tự quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này. Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận, biểu quyết một số vấn đề của dự án, dự thảo theo đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra để làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

b) Trong thời gian giữa hai phiên họp, Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Uỷ ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo sự chỉ đạo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

c) Chậm nhất là ba ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Uỷ ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Uỷ ban pháp luật chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật;

d) Tại phiên họp thứ hai, cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc chỉnh lý dự thảo; trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác với nội dung đã được chỉnh lý trong dự thảo thì ý kiến đó phải được nêu rõ trong báo cáo;

đ) Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp vẫn còn những vấn đề có ý kiến khác nhau thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về những vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

e) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 55. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua

Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua bao gồm:

1. Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

2. Dự thảo đã được chỉnh lý.

Điều 56. Ngày thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội

Ngày thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội là ngày Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết đó.

Mục 6

CÔNG BỐ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI,

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Điều 57. Công bố luật, pháp lệnh, nghị quyết

1. Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày luật, pháp lệnh, nghị quyết được thông qua.

2. Đối với pháp lệnh, nghị quyết đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại theo quy định tại khoản 7 Điều 103 của Hiến pháp thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến. Nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất. Trong các trường hợp này thì thời hạn công bố chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua lại hoặc Quốc hội quyết định.

Chương IV

XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM

PHÁP LUẬT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC

Điều 58. Xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

1. Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định cơ quan soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định.

2. Cơ quan soạn thảo tổ chức nghiên cứu, soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định.

3. Tuỳ theo nội dung của dự thảo lệnh, quyết định, Chủ tịch nước quyết định việc đăng tải toàn văn trên Trang thông tin điện tử của cơ quan soạn thảo. Việc đăng tải dự thảo phải bảo đảm thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia ý kiến.

4. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo lệnh, quyết định và báo cáo Chủ tịch nước.

5. Chủ tịch nước xem xét, ký ban hành lệnh, quyết định.

Chương V

XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, BỘ TRƯỞNG,

THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN NGANG BỘ

Điều 59. Lập chương trình xây dựng nghị định

1. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan lập dự kiến chương trình xây dựng nghị định hằng năm của Chính phủ trên cơ sở đề nghị của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Đề nghị xây dựng nghị định phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, nội dung, chính sách cơ bản và báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản.

2. Trong trường hợp cần thiết, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp có sự tham gia của đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan để xem xét đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ.

Cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng nghị định cử đại diện thuyết trình về những vấn đề liên quan đến đề nghị của mình.

3. Văn phòng Chính phủ lập dự kiến chương trình xây dựng nghị định của Chính phủ và gửi đến các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến, đồng thời đăng tải dự kiến chương trình trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến.

4. Chính phủ thông qua chương trình xây dựng nghị định hằng năm. Thủ tướng Chính phủ phân công bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì soạn thảo dự thảo nghị định.

Điều 60. Ban soạn thảo nghị định

1. Cơ quan chủ trì soạn thảo thành lập Ban soạn thảo nghị định. Ban soạn thảo gồm Trưởng ban là đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo và các thành viên là đại diện cơ quan thẩm định, đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học.

Ban soạn thảo chịu trách nhiệm về chất lượng và tiến độ soạn thảo dự thảo nghị định trước cơ quan chủ trì soạn thảo.

Trưởng ban soạn thảo thành lập Tổ biên tập để giúp việc cho Ban soạn thảo và thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Ban soạn thảo.

2. Ban soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:

a) Xem xét, thông qua đề cương dự thảo nghị định;

b) Thảo luận những vấn đề cơ bản, nội dung của dự thảo nghị định, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

c) Thảo luận về những nội dung cần được tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của cơ quan thẩm định và ý kiến tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

d) Bảo đảm các quy định của dự thảo văn bản phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; bảo đảm tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của văn bản.

3. Trên cơ sở ý kiến thảo luận của Ban soạn thảo, Trưởng ban soạn thảo chỉ đạo Tổ biên tập soạn thảo và chỉnh lý dự thảo nghị định.

Điều 61. Nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo

1. Cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm trước Chính phủ về nội dung, chất lượng của dự thảo nghị định và tiến độ soạn thảo.

2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:

a) Tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự thảo; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo;

b) Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu và các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến dự thảo;

c) Tổ chức lấy ý kiến, nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; xây dựng tờ trình, báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo, báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản và đăng tải các tài liệu này trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan chủ trì soạn thảo;

d) Bảo đảm điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập.

Điều 62. Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị định

1. Trong quá trình soạn thảo dự thảo nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến góp ý; đăng tải toàn văn dự thảo trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

2. Việc lấy ý kiến về dự thảo có thể bằng hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo để góp ý, tổ chức hội thảo, thông qua Trang thông tin điện tử của Chính phủ, của cơ quan chủ trì soạn thảo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng.

3. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý.

Điều 63. Thẩm định dự thảo nghị định

1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị định trước khi trình Chính phủ.

Đối với dự thảo nghị định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học.

2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

a) Tờ trình Chính phủ về dự thảo nghị định;

b) Dự thảo nghị định;

c) Bản thuyết minh chi tiết và báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản;

d) Bản tổng hợp ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; bản sao ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; báo cáo giải trình về việc tiếp thu ý kiến góp ý.

đ) Tài liệu khác (nếu có).

3. Nội dung thẩm định dự thảo nghị định theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật này.

4. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung dự thảo nghị định; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị định. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định dự thảo nghị định.

5. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

6. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến thẩm định, chỉnh lý dự thảo nghị định để trình Chính phủ.

Điều 64. Hồ sơ dự thảo nghị định trình Chính phủ

1. Tờ trình Chính phủ về dự thảo nghị định.

2. Dự thảo nghị định sau khi tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định và ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định và tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

4. Bản thuyết minh chi tiết và báo cáo đánh giá tác động của dự thảo nghị định.

5. Bản tổng hợp ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

6. Tài liệu khác (nếu có).

Điều 65. Chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định trước khi trình Chính phủ

Trong trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự thảo nghị định thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ triệu tập cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo của cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, lãnh đạo của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan để giải quyết trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ.

Điều 66. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị định

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo nghị định, Chính phủ có thể xem xét, thông qua tại một hoặc hai phiên họp của Chính phủ theo trình tự sau đây:

1. Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự thảo;

2. Đại diện Văn phòng Chính phủ nêu những vấn đề cần thảo luận;

3. Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

4. Chính phủ thảo luận.

Cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan chỉnh lý dự thảo theo ý kiến của Chính phủ;

5. Chính phủ biểu quyết thông qua dự thảo nghị định.

Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua thì Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo về những vấn đề cần phải chỉnh lý và ấn định thời gian trình lại dự thảo, đồng thời giao cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ xem xét, thông qua;

6. Thủ tướng Chính phủ ký nghị định.

Điều 67. Xây dựng, ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ

1. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm soạn thảo dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ.

2. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm đăng tải toàn văn dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo lấy ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan.

3. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; nội dung thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật này. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan soạn thảo chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

4. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến của cơ quan thẩm định, ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

5. Thủ tướng Chính phủ xem xét và ký ban hành quyết định.

Điều 68. Xây dựng, ban hành thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

1. Dự thảo thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phân công và chỉ đạo đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ soạn thảo.

2. Dự thảo thông tư được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo, dự thảo thông tư được gửi lấy ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan.

3. Tổ chức pháp chế của bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thẩm định dự thảo văn bản theo các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật này.

4. Đơn vị được phân công soạn thảo chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định và ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo và báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ xem xét và ký ban hành thông tư.

Chương VI

XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO,

TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Điều 69. Xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2. Dự thảo nghị quyết được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Toà án nhân dân tối cao trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo để lấy ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự và cơ quan, tổ chức có liên quan.

3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo nghị quyết.

4. Dự thảo nghị quyết được thảo luận tại phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

5. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết thông qua dự thảo.

Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì có quyền báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội để Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại phiên họp gần nhất.

6. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 70. Xây dựng, ban hành thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

1. Dự thảo thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao do Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2. Dự thảo thông tư được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy ý kiến của Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự và cơ quan, tổ chức có liên quan.

3. Dự thảo thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến.

4. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến, xem xét và ký ban hành thông tư.

Điều 71. Xây dựng, ban hành thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1. Dự thảo thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2. Dự thảo thông tư được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy ý kiến Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự và cơ quan, tổ chức có liên quan.

3. Dự thảo thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến.

4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến, xem xét và ký ban hành thông tư.

Điều 72. Xây dựng, ban hành quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước

1. Dự thảo quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước do Tổng Kiểm toán Nhà nước tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2. Dự thảo quyết định được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Kiểm toán Nhà nước trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

3. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo, Tổng Kiểm toán Nhà nước quyết định gửi dự thảo để lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan.

4. Tổng Kiểm toán Nhà nước chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành quyết định.

Chương VII

XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN TỊCH

Điều 73. Xây dựng, ban hành nghị quyết liên tịch

1. Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.

2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.

3. Dự thảo được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.

5. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành nghị quyết liên tịch.

Chủ tịch Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ và người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội cùng ký nghị quyết liên tịch.

Điều 74. Xây dựng, ban hành thông tư liên tịch

1. Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thỏa thuận, phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.

2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.

3. Dự thảo được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải được lấy ý kiến các thành viên Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thành viên Uỷ ban Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.

5. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền ban hành thông tư liên tịch.

Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cùng ký thông tư liên tịch.

Chương VIII

XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

THEO TRÌNH TỰ, THỦ TỤC RÚT GỌN

Điều 75. Các trường hợp xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

1. Trong trường hợp khẩn cấp hoặc cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành thì việc xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có thể được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc xây dựng, ban hành pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn; trình Quốc hội việc xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Chủ tịch nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

3. Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn được quy định như sau:

a) Cơ quan chủ trì soạn thảo không nhất thiết phải thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập để soạn thảo mà có thể trực tiếp tổ chức việc soạn thảo;

b) Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về dự thảo văn bản;

c) Cơ quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định dự thảo văn bản ngay sau khi nhận được hồ sơ thẩm định; cơ quan thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra dự thảo văn bản ngay sau khi nhận được hồ sơ thẩm tra.

Điều 76. Hồ sơ trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

1. Tờ trình về dự án, dự thảo.

2. Dự thảo văn bản.

3. Báo cáo thẩm định đối với dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; báo cáo thẩm tra đối với dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Điều 77. Việc xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 75 của Luật này, Quốc hội xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản tại một kỳ họp; Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản tại một phiên họp.

Chương IX

HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG, CÔNG KHAI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 78. Thời điểm có hiệu lực và việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật

1. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi chung là Công báo) chậm nhất sau hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

2. Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và các trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều này.

Trong thời hạn chậm nhất là hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo.

Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản.

Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc.

Chính phủ quy định cụ thể về Công báo.

Điều 79. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật

1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước.

2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;

b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

Điều 80. Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ việc thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định huỷ bỏ thì văn bản hết hiệu lực, nếu không huỷ bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực.

2. Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải được quy định rõ tại quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Điều 81. Những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực

Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;

2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;

3. Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 82. Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng

Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp văn bản có quy định khác hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Điều 83. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

Điều 84. Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải toàn văn trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành và phải đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.

Chương X

GIẢI THÍCH LUẬT, PHÁP LỆNH

Điều 85. Thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh

Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh.

Cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 87 của Hiến pháp, đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định việc giải thích.

Điều 86. Xây dựng, ban hành dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh

1. Tuỳ theo tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội giao cho Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết giải thích với tinh thần và nội dung của văn bản được giải thích.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội đã có đề nghị giải thích được mời tham dự phiên họp trình bày ý kiến;

b) Đại diện cơ quan được phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo;

c) Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

đ) Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận;

e) Chủ tọa phiên họp kết luận;

g) Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết;

h) Chủ tịch Quốc hội ký nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh.

3. Nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh được đăng Công báo và đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Chương XI

GIÁM SÁT, KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM

PHÁP LUẬT, HỢP NHẤT VĂN BẢN VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 87. Giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát, kiểm tra theo quy định của pháp luật.

Việc giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung sai trái hoặc không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản sai trái.

Điều 88. Nội dung giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

1. Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

2. Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung của văn bản đó.

3. Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản.

4. Sự thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành của cùng một cơ quan.

Điều 89. Giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật

1. Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

2. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

Điều 90. Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật

1. Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ.

2. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trái Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

3. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc kiểm tra, xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ.

Điều 91. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của mình và của bộ, cơ quan ngang bộ về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.

Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tự mình bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác thay thế.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có quyền kiến nghị với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đã ban hành văn bản về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản đó, nếu kiến nghị không được chấp nhận thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Điều 92. Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản quy phạm pháp luật được hợp nhất về mặt kỹ thuật với văn bản được sửa đổi, bổ sung.

2. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.

Điều 93. Rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật

1. Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thường xuyên rà soát, định kỳ hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật; nếu phát hiện có quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển của đất nước thì tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

Cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

2. Quy phạm pháp luật phải được rà soát, tập hợp, sắp xếp thành bộ pháp điển theo từng chủ đề.

Việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.

Chương XII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 94. Kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật do ngân sách nhà nước cấp.

Điều 95. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

Luật này thay thế Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002.

2. Những văn bản quy phạm pháp luật bao gồm nghị quyết của Chính phủ; chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; văn bản liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội được ban hành trước khi Luật này có hiệu lực thì vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi bị bãi bỏ, hủy bỏ hoặc được thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Phú Trọng

Tên văn bản : Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Loại văn bản : Luật
Số hiệu : 17/2008/QH12
Ngày ban hành : 12/06/2008
Cơ quan ban hành : Quốc hội,
Người ký : Nguyễn Phú Trọng,
Ngày hiệu lực : 01/01/2009
Văn bản liên quan : 0

Posted by: minhanhtran80 | 2009/10/14

NGHIEP VU XUAT-NHAP KHAU

CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ PHỔ BIẾN

Sunday, 26. August 2007, 12:00:00

Thanh toán quốc tế, Import and Export, Xuất Nhập Khẩu

Thanh toán quốc tế là một trong số các nghiệp vụ của hoạt động XNK. Các phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất hiện nay là:
TT
TTR
DP
DA
LC
……
Nhờ thu chấp nhận chứg từ (D/A: Document Acceptance)
Nhờ thu kèm chứng từ (D/P: Document against Payment)
1. Điện chuyển tiền (Telegraphic Transfer) được viết tắt là TTr hoặc TT;
2. Chuyển bồi hoàn tiền bằng điện (Telegraphic Transfer Reimbursement) được viết tắt là TTR
Trả tiền lấy chứng từ (C.A.D: Cash Against Document).
Nhờ thu (Collection).
Tín dụng thư (L/C: Letter of Credit).

PHÂN BIỆT CÁC ĐIỀU KHOẢN THƯƠNG MẠI TRONG INCOTERMS 2000

Sunday, 16. September 2007, 08:49:22

INCOTERMS2000, Xuất Nhập Khẩu, Giao nhận vận tải đường biển

PHÂN BIỆT CÁC ĐIỀU KHOẢN THƯƠNG MẠI TRONG INCOTERMS 2000

Đại học Kinh Tế TPHCM

Incoterm 2000, chia các điều kiện thương mại thành 4 nhóm, hiểu và phân biệt giữa các nhóm này, và quan trọng là nhớ để mà áp dụng không phải là điều dễ dàng.Hôm nay, mình trình bày một cách đặt vấn đề mới hy vọng là dễ hiểu và dễ nhớ hơn.
Thứ nhất có 4 nhóm, nhớ câu ;Em Fải Cổ Đi , 4 từ đầu của câu chính là 4 điều kiện thương mại trong incorterm 2000 :E,F,C,D
Bây giờ ta đi cụ thể vào từng nhóm :
1.Nhóm E-EXW-Ex Works
Giờ tôi có một món hàng, tôi muốn bán và tôi chả chịu bất cứ trách nhiệm gì về lô hàng đó, từ xin giấy phép xuất khẩu đến thuê phương tiện vận chuyển, thuê tàu….nghĩa là rất lười và chả có tí trách nhiệm gì về thủ tục thì đó là điều kiện nhóm E .Vậy nhé, khi nào mình muốn bán hàng và chẳng muốn làm thủ tục gì hãy nhớ đến nhóm E

2.Nhóm F
Trong nhóm F có 3 nhóm là FOB, FCA,FAS. Vậy bí quyết để nhớ khi cần đến nhóm F là thế nào? Hãy nhớ F là free nghĩa là không có trách nhiệm, vậy không có trách nhiệm với gì, không có trách nhiệm với việc vận chuyển từ cảng bốc hàng đến cảng dỡ hàng. Đó là nét cơ bản của nhóm F.
Vậy đâu là cơ sở để phân biệt,chia ra 3 nhóm FCA,FAS,FOB.Xin trả lời, cơ sở chính là trách nhiệm vận chuyển hàng từ cơ sở của người bán lên tàu

2.1 FCA
Chỉ bốc hàng lên phương tiên vận tải người mua gửi đến nhận hàng nếu vị trí đó nằm trong cơ sở của người mua. Sau khi bốc hàng lên phương tiện vận tải là tôi hết trách nhiệm.
Lấy ví dụ , tôi bán 2 container về đèn chiếu sáng theo điều kiện FCA sang Mỹ, cơ sở sản xuất của tôi ở quận Tân Bình. Nếu tôi giao hàng ở cơ sở quận Tân Bình, thì tôi phải thuê xe nâng để chuyển hàng lên xe container chuyên dụng do người mua gửi đến.
Lấy trường hợp, vẫn bán theo điều kiện FCA, nhưng giao hàng ở kho trung chuyển ở Tân Cảng chẳng hạn, lúc này việc vận chuyển hàng lên xe container chuyên dụng do người mua gửi đến, người mua phải tự lo lấy. Nghe có vẻ không công bằng, thực ra thì người bán đã phải vận chuyển hàng đến tận kho trung chuyển rồi còn gì. Điều này có lợi cho những nhà xuất khẩu, bán hàng nhiều, có vị trí tập kết hàng tốt.
Làm thế nào nhớ được tính chất cơ bản của nhóm FCA?
Nhớ đến FCA hãy nhớ từ C-Carrier ,Free Carrier- Miễn trách nhiệm vận chuyển, chính là ý nghĩa đã phân tích ở trên

2.2 FAS

Nhóm này, trách nhiệm người bán, cao hơn nhóm FCA, nghĩa là không giaohàng tại cơ sở sản xuất hay điểm trung chuyển như trên mà người bán phải thuê phương tiện vận chuyển để đưa hàng xếp dọc mạn tàu.
Để nhớ đặc tính này hãy nhớ từ Free Alongside –Miễn trách nhiệm đến khi đã xếp dọc mạn tàu.
2.3 FOB

Ở điều kiện FAS trách nhiệm ta là giao hàng đến mạn tàu, thế còn nếu khi bốc hàng từ mạn tàu lên tàu, chẳng may hàng bị vỡ thì sao, ai chịu trách nhiệm? Ai trả chi phí bốc hàng này? Trả lời câu hỏi trên chính là điều kiện FOB.
Vậy nhớ đến FOB, hãy nhớ đến trách nhiệm của chúng ta là phải giao hàng lên đến tàu , nghĩa là chịu trách nhiệm cẩu hàng lên tàu. Từ Free on board nói lên điều đó –Miễn trách nhiệm khi đã giao hàng lên tàu.

Như vậy trong điều kiện nhóm F , hãy nhớ:
1.Trách nhiệm chuyên chở tăng dần :
FCA———>>>FAS———>>> FOB
2.Chịu chi phí làm thủ tục xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu.

Vậy là từ nhóm E, tôi chỉ giao hàng thôi, còn người mua muốn làm sao thì làm
Đến nhóm F, trách nhiệm có nâng lên một tí, tức là có đề cập đến trách nhiệm chuyên chở
Vậy cao hơn nữa là gì? Đó là đảm nhận luôn việc chuyên chở đến cảng dỡ hàng cho người mua. Khi nghĩ đến việc thuê tàu và chuyên chở từ cảng đi đến cảng đến hãy nhớ đến nhóm C. Chắc chăn từ gợi nhớ đến nhóm C là từ cost từ cước phí

3.Nhóm C

Như vậy, nói đến nhóm C, là nói đến thêm chi phí người bán sẽ lo thêm từ việc thuê tàu, đến việc chuyên chở và bốc hàng, cũng như bảo hiểm cho các rủi ro trong quá trình chuyên chở
Và những tính chất này cũng là cơ sở để phân biệt các điều kiện trong nhóm C

3.1 CFR

Đơn giản là người bán phải chịu thêm chi phí chuyên chở đến cảng dỡ hàng, còn chi phí dỡ hàng do người mua chịu nếu có thỏa thuận
.Giá CFR = Giá FOB + F (Cước phí vận chuyển)

3.2 CIF

Qúa trình chuyên chở từ cảng mua đến cảng bán là do người bán chịu rồi nhưng nếu dọc đường đi, chẳng may hàng hóa bị hỏng thì sao? Rõ ràng là cần phải mua bảo hiếm cho hàng. Như vậy CIF giống CFR ngòai việc người bán phải mua bảo hiểm.
Thường thì mua bảo hiểm ở mức tối thiểu theo FPA hay ICC(C) -110% giá trị hàng hóa giao dịch
Bí quyết để nhớ nhóm CIF vối các nhóm khác là từ I-Insurance-Bảo hiểm
Giá CIF=Giá FOB + F(cước vận chuyển) +(CIF X R)= (FOB+F)/(1-R)

Có những doanh nghiệp mua hàng, làm sang, mặc dù ta đã chuyển hàng đến cảng nhưng họ chưa thỏa mãn, muốn ta chuyển công ty hay địa điểm họ chỉ định nằm sâu trong nội địa, do vậy phát sinh thêm điều kiện CPT,CIP

3.3 CPT

CPT= CFR + F( Cước phí vận chuyển từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người bán chỉ định)
Đặc điểm nổi bật của CPT là ở chỗ đó, giống hệt CFR, ngoài ra còn thêm cước phí vận chuyển từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người bán chỉ định

3.4 CIP

CIP=CIF +(I+F)( Cước phí vận chuyển và bảo hiểm từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người bán chỉ định) =CPT+I (Cước phí bảo hiểm từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người bán chỉ định)

Như vậy trong nhóm C, có các lưu ý sau :

-Trách nhiệm làm thủ tục nhập khãu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu thuộc người mua
-Trách nhiệm người bán tăng dần CFR ——->>> CIF——->>> CPT——->>> CIP
-CIF,CFR chỉ áp dụng phương tiện vận tải thủy
-CPT,CIP áp dụng đường sắt, đường bộ, đường hàng không, và cả vận tải đa phương thức

Ta thấy 3 nhóm trên là tương đối đủ nhưng tại sao lại có thêm nhóm D?
Câu trả lời là có những yêu cầu mà điều kiện giao hàng, nó không nằm trong bất kỳ điều kiện nào trong các nhóm trên, hoặc phải áp dụng các điều kiện trên nhưng kèm theo là các điều khoản bổ sung
Nói có sách, mách có chứng, lấy ví dụ :
Ví dụ 1:
Công ty Việt Nam ở Phú Thọ bán vải sấy ép khô cho Trung Quốc qua cửa khẩu Lạng Sơn, điều kiện Trung Quốc yêu cầu là giao hàng cho Trung Quốc trên các xe tải tại biên giới , việc chuyên chở, thuê xe đến điểm quy định trên biên giới là do cty Việt Nam đảm nhận, còn việc bốc dỡ hàng từ xe tải xuống tại điểm giao hàng, phía Trung Quốc sẽ lo.
Vậy ta kiểm tra xem, áp dụng được điều khoản nào, trong các nhóm E,F,C mà ta đã học không nhé :
Nhóm E :Chắc chắn là không rồi , yêu cầu giao hàng tại cửa khẩu Lạng Sơn, mà vải thì thu gom ở Phú Thọ, nếu theo E thì cty Việt Nam chỉ giao hàng ở Phú Thọ thôi.
Nhóm F:
FCA :Không được, bởi phìa Trung Quốc không đồng ý thuê ô tô vào tận PHÚ ThỌ lấy vải.
FAS:Không được, điều kiện này chỉ áp dụng với phương tiện vận tải thủy
FOB:Không được, điều kiện này chỉ áp dụng với phương tiện vận tải thủy
Nhóm C:
CFR:Không được, điều kiện này chỉ áp dụng với phương tiện vận tải thủy
CIF:Không được, điều kiện này chỉ áp dụng với phương tiện vận tải thủy
CPT: Nghe có vẻ được, nhưng CPT là người mua thuê phương tiên vận tải chuyển hàng đến kho cho người bán từ cảng dỡ hàng nhưng ở đây phía Trung Quốc chỉ yêu cầu giao hàng ngay tại biên giới, không cần chuyên chở đi đâu cả, việc dỡ hàng và chuyển đến kho họ sẽ lo
CIP :Cũng tương tự như CPT không áp dụng được.

Ví dụ 2:
Một công ty Việt Nam xuất hàng thủy sản là tôm đông lạnh sang cho Nhật, phía Nhật yêu cầu giao tại cảng Kobea cho họ, còn việc bốc hàng xuống họ sẽ tự lo, phía Việt Nam chỉ cần đưa các con tàu chở hàng đến cảng Kobe an toàn là đuợc.
Trong truờng hợp này, rõ ràng là có thể áp dụng điều kiện CFR , nhưng
Với CFR , người bán phải đảm bảo cho hàng an toàn sau khi qua lan can tàu tại cảng đến.
Còn trong trường hợp này, doanh nhiệp Nhật sẽ tự lo, anh Việt Nam chỉ cần đưa hàng an toàn đến cảng và đảm bảo hàng nằm trên tàu an tòan là được. Vậy, nếu muốn áp dụng CFR, phải ký thêm thỏa thuận là phía Việt Nam chỉ chịu đưa hàng an toàn đến cảng và đảm bảo hàng nằm trên tàu an tòan là được. Vậy trong hợp đồng ngọai thương phải ghi thế nào. Gỉa định:
1.Tham chiếu điều kiện CFR, Incoterms 2000
2……
3…….
Các điều khỏan khác:

1.Phía Việt Nam chỉ chịu đưa hàng an toàn đến cảng và đảm bảo hàng nằm trên tàu an tòan
2………

Như vậy là điều khỏan chính 1 và điều khỏan khác mâu thuẫn lẫn nhau, nguyên tắc hợp đồng là các điều khỏan không được phủ định lẫn nhau.

Qua 2 ví dụ trên, ta thấy sự cần thiết có nhóm D

4.Nhóm D

1.DAF
Bí quyết là chữ F-Frontier, nghĩa là giao hàng tại biên giới, còn việc dỡ hàng phía mua sẽ lo.
Trong buôn bán mậu dịch đường biên, điều khỏan này thường được áp dụng

2.DES
Giao hàng an tòan trên tàu tại cảng dợ hàng, việc dỡ hàng phía mua sẽ lo.Rõ ràng địa điểm chuyển rủi ro so với FOB,CFR,CIF không phãi là lan can tàu tại cảng đến mà chính là boang tàu.
DES :Nhớ đến chữ ES :Ex Ships

3.DEQ
DEQ hàng phải đặt an tòan tại cầu cảng quy định.Vậy nó có khác gì với CFR đâu ?, cũng yêu cầu chuyển hàng đến cảng đích, chịu chi phí dỡ hàng. Vấn đề khác biệt ở đây là chuyện rủi ro:CFR địa điểm chuyển rủi ro là lan can tàu, nghĩa là sau khi cần cẩu đã quay qua lan can tàu, chẳng may hàng bị rơi xuống, đỗ vỡ….thì với CFR, người bán không còn chịu trách nhiệm.
Còn với DEQ thì người bán phải chịu trách nhiệm cho đến khi hàng đã đặt an tòan lên cầu cảng
So với DES thì DEQ =DES +Chi phí dỡ hàng + Risk trong quá trình dỡ hàng
Và chữ EQ –Ex Quay –tại cầu cảng, nói lên ý nghĩa này

4.DDU
Chịu trách nhiệm đưa hàng tới điểm đích quy định.Thực sự thì DDU rất giống CFR và giống CPT, và cả DEQ tuy vậy VẪN CÓ NHỰNG SỰ KHÁC BIỆT :
CFR :Áp dụng cho đường biển
DEQ:Thì mọi phương tiện nhưng chỉ giao hàng tại cầu cảng
CPT :Thì áp dụng với mọi phương tiện và vận chuyển đến đích luôn , trông rất giống với DDU nhưng với DDU người bán chưa làm thủ tục thông quan nhập khẩu và chưa dỡ hàng khỏi phương tiện vận chuyển đến và nếu người mua gặp rủi ro khi làm các thủ tục thông quan nhập khẩu thì người mua sẽ chịu mọi phí tổn và rủi ro phát sinh

5.DDP :Giống hệt DDU , ngọai trừ người bán phải chịu luôn rủi ro khi người mua gặp rủi ro khi làm các thủ tục thông quan nhập khẩu. Gỉa sử thuế xuất khẩu tăng lên, người mua sẽ chịu

Đến đây ta thấy vấn đề thật ra cũng rất rõ, giả sử cty Việt Nam nhập khẩu lô hàng thuốc trừ sâu thực vật từ Mỹ, và công ty Việt Nam do không có kinh nghiệm tổ chức vận chuyển mặt hàng nguy hiểm này, nên yêu cầu nhà xuất khẩu phải vận chuyển đến cơ sở của công ty ở Đồng Nai.
Nếu lô hàng thuốc trừ sâu này nằm trong danh mục hàng được nhập khẩu và được nhiều doanh nghiệp nhập trước đó, cty biết cha71c việc làm thủ tục đơn giản. Trong truờng hợp này cty sẽ ký CPT
Nhưng nếu lô hàng này, trước kia chưa bao giờ nhập, nhưng tình hình kinh doanh khiến cty muốn nhập gấp về, và trong thời gian hàng về, cty sẽ chạy lo thủ tục hải quan.Tất nhiên, người bán sẽ chịu rủi ro, lỡ không nhập được thì sẽ ra sao. Tất nhiên, doanh nghiệp VN sẽ chịu rủi ro đó, nếu không lo được thủ tục hải quan .Trường hợp này làm thủ tục DDU
Còn nếu cty Việt Nam vẫn muốn nhập lô hàng nhưng lại e ngại về việc không làm được thủ tục hải quan và không muốn gánh rủi ro nay. Trong khi nhà xuất khẩu ở Mỹ lại có quan hệ với cty khác ở Việt Nam có thế mạnh và quan hệ tốt để làm giấy tờ nhập khẩu và họ chắc chắn sẽ lo được thủ tục, nếu có rủi ro họ sẽ chịu thì cty Việt Nam sẽ ký hợp đồng theo điều kiện DDP
Trong thực tế, vận tải bằng đường thủy thường áp dụng DEQ hay DES tùy giao cầu cảng hay trên boang cho DDU và DDP

Những nhận xét rút ra:

1.Các doanh nghiệp Việt Nam thường bán giá FOB và mua giá CIF .Theo bạn, như vậy có thỏa đáng hay không ?
Trả lời :
Thứ nhất:
Là giải thích tại sao lại có thông lệ đó. Nguyên nhân là doanh nghiệp VN thường muốn chuyển rủi ro nhanh chóng cho người mua (Khi xuất khẩu) và kéo dài trách nhiệm người bán (Khi nhập khẩu).
Thường thì có quan điểm FOB-Free on board là giao hàng lên boang tàu là hết trách nhiệm. Thực ra không phải, free on board có nghĩa là người bán phải chịu trách nhiệm trả cước phí để vận chuyển hàng đặt lên boang tàu thôi, còn trách nhiệm với hàng vẫn kéo dài cho đến khi hàng qua lan can tàu tại cảng giao hàng.
FOB,CIF,CFR đều quy trách nhiệm địa điểm chuyển rủi ro cho người bán là lan can tàu tại cảng bốc hàng. Như vậy về mặt trách nhiệm thì địa điểm chuyển rủi ro là như nhau

Thứ 2:
Là cho rằng các doanh nghiệp hiểu điều đó nhưng vẩn xuất giá FOB và nhập giá CIF:
Nguyên nhân là do doanh thu của doanh nghiệp VN không ổn định, kim ngạch xuất khẩu thấp nên các hãng tàu thường chiết khấu cho các DN Việt Nam ít, nên nếu bán giá CIF hay CFR, sẽ làm tăng giá thành, không cạnh tranh được.
Khả năng cạnh tranh yếu, lợi thế xuất khẩu nhỏ nên không áp đặt được giá CIF khi ký hợp đồng
Lợi ích khi bán giá CIF hay CFR :
1.Tạo điều kiện cho các hãng tàu, hãng bảo hiểm trong nước có thêm khách hàng, tiềm năng để phát triển
2.Tạo thêm điêu kiện công ăn việc làm cho người lao động :Ngành dịch vụ vận tải và bảo hiểm
3.Gỉam bớt thất thu ngọai tệ do chi phí thuê tàu thường phải trả bằng ngọai tệ nên nếu nhập giá CIF thì giá nhập cao mà xuất giá FOB thì giá xuất giảm
4.Tăng thêm doanh thu cho doanh nghiệp do bán được giá cao
5.Nếu bán giá CIF, mua FOB doanh nghiệp thu được các khỏan hoa hồng, chiết khấu từ hãng tàu
6.Gặp khó khăn khi khiếu nại đòi bồi thường với các hãng tàu nước ngoài
7.Bị động với phương tiện vận tải
Tuy vậy để chuyển từ bán FOB qua bán CFR, CIF và mua CIF sang mua FOB, DN cần :

-Nâng cao nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu
-Nâng cao thế và lực trong kinh doanh xuất nhập khẩu để có thể áp đặt giá khi thương lượng hợp đồng
-Hiểu đúng Incoterms và có khả năng ngoại ngữ tốt (Điều này đương nhiên)

2.So sánh giá khi ký hợp đồng xuất nhập khẩu.
Ví dụ oanh nghiệp VN xuất khẩu chào các giá khác nhau xuất hàng sang Mỹ như sau :
EXW Đà Lạt :275 USD/ton
FOB Sài Gòn :320 USD/ton
CIF New York :450 USD/tan
Biết phí xuất khẩu bằng 0%, lệ phí hải quan 5 USD/ton, chi phí bốc hàng từ cơ sở + phí vận chuyển đến cảng + phí bốc hàng lên tàu là 55USD/tan, chi phí vận chuyển từ cảng Sài Gòn đến New York Mỹ là 100 USD tấn. Biết R=0.2%.Hỏi doanh nghiệp Mỹ chọn giá nào?
Có 2 cách giải :
Cách 1:Loại trừ
1.FXW và FOB:
Ta tính giá mà người bán tự tạo giá FOB mua rồi so với giá FOB chào
EXW=275
FOB mua =FOB(MIN) +RISK(Khi bốc hàng lên tàu, rủi ro trên đường chuyển đến tàu, bốc hàng từ nơi giao hàng lên phương tiện vận tải)
FOB(MIN)=EXW+Lệ phí hải quan + cước phí vận chuyển( Từ nơi giao hàng lên boang)= 275+5+55=335
FOB mua=FOB(MIN) +RISK=335+RISK>FOB(Chào)=320 nên chọn mua giá FOB
Chào
2.FOB và CIF
Tính giá CIF người mua tạo
CIF mua=(FOB chào + F (Vận chuyển))/(1-R)=(320+80)(1-0.2%)=420,8
Vậy CIF mua =420.8<CIF chào =450USD
Chọn CIF mua, nghĩa là thực tế mua FOB chào
Cách 2:Đưa về một giá :
Quy hết về CIF New York:
1,EXW=275 ,CIF NY1=FOB MIN+F+I=(275+5+55)+100 + (450*0.2%)=435.9 USD
2.FOB Chào=320 ,CIF NY2=FOB Chào +F + I = 320+100+(450*0.2%)=420.9 USD
3.CIF Chào =450
So sánh CIF NY1,CIF NY2,CIF Chào ta chọn CIF NY2 nghĩa là mua giá FOB Chào

SOURCE: http://www9.ttvnol.com
Read more at: http://my.opera.com/CNQTDN/blog/incoterms-2000
http://my.opera.com/CNQTDN/blog/xuat-nhap-khau

Vietnam’s economic growth forecast at 7.2 pct in 2008Hidden Emoticons

Comments

Đề thi tham khảo

Thời gian làm bài 120 phút
1. Tại sao ICC lại khuyên các nhà kinh doanh khi giao hàng bằng container. thì nên dùng điều kiện CIP thay cho CIF.
2. Phân tích các điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán ngoại thương theo pháp luật VN
3. Soạn thảo điều kiện chất lượng, giao hàng, bao bì và giá cả khi xuất khẩu vừng đen sang Nhật, biết vừng loại một, theo mẫu hai bên đã chọn, điều kiện CIF, giá 1000usd/mt.
4. Khi nhận hàng lượng vừng đen trên ở cảng đến, người mua phát hiện ra 200 bao rách vỡ, 100 bao mốc và khiếu nại người bán VN, hỏi người bán có chịu trách nhiệm không, tại sao.

SOURCE: http://www9.ttvnol.com

By CNQTDN, # 23. May 2008, 08:50:19

RÚT RA ĐIỀU GÌ TỪ INCOTERMS 2000?
Ta có 2 câu hỏi
1. Quan điểm của doanh nghiệp xuất khẩu VN là :Bán giá FOB để sớm chuyển rủi ro cho người mua. Còn khi nhập khẩu thì thì
mua giá CFR hay CIF vì cho rằng an toàn hơn, bắt người bán nước ngòai phải chịu rủi ro đến tận cảng nhập khẩu. Quan điểm đó có đúng không?
Trả lời : Đó là quan điểm sai vì khi bán giá FOB, hay mua giá CIF,CFR, đều lấy lan can tàu tại cảng giao hàng (Loading port) làm điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua

2.Vậy thì có khuyến cáo gì đối với doanh nghiệp thường bán giá FOB,giá CIF,CFR ?
Trả lời :
Với doanh nghiệp thường xuyên bán giá FOB và hàng là container, vận tải bằng thủy nên chuyển sang bán giá FCA vì nhanh chóng chuyển rủi ro hơn. Lúc này, doanh nghiệp bốc hàng lên phương tiện vận tải do người mua gửi đến là hết trách nhiệm.
Với doanh nghiệp, bán theo giá CIF hay CFR thì nên chuyển sang bán giá CIP, và giá CPT vì cũng nhanh chóng chuyển giao được rủi ro, rủi ro được chuyển sang người mua sau khi hàng hóa đã giao xong cho người vận tải tại vị trí bốc hàng.
Hơn nữa, với FCA, CPT,CIP, nếu người mua đã mua đã mua bảo hiểm kể từ khi hàng hóa thuộc quyền quản lý của các đơn vị vận tải thì cty bảo hiểm sẽ bảo hiểm cả giai đoạn hàng hóa từ bãi hoặc trạm container cho đến khi hàng hóa đã giao lên tàu. Tránh xảy ra rắc rối khi xãy ra tỗn thất hàng vượt qua lan can tàu, nếu xảy ra tranh chấp dạng này, rất khó phân định để giải quyết.

Được chieu_cuoi_thu sửa chữa / chuyển vào 17:34 ngày 28/04/2007

SOURCE: http://www9.ttvnol.com

By CNQTDN, # 23. May 2008, 08:50:48

Bài toán :Lập phương án nhập khẩu
Môt công ty Việt Nam, nhập lô hàng giấy từ Đức, số lượng 400 tấn
Đơn giá mua (Chưa có thuế xuất nhập khẩu):720 USD MT CIF SGN
Thời hạn giao hàng trước ngày 31/07/2007
Hình thức thanh toán :LC at sight
Thuế nhập khẩu :30% (Tính trên giá CIF)
Lãi suất ngân hàng :0.8%/tháng
Phí trực tiếp:0.5% doanh thu
Phí gián tiếp:0.6%doanh thu
Tỷ giá trao đổi :16.000 VNĐ/USD
Giá bán :15.800.000 Đ/tấn (Chưa có VAT)
Thời gian thực hiện hợp đồng :2 tháng
Câu 1:
Tính Doanh thu, lãi gộp, tỷ lệ lãi gộp,lãi ròng, tỷ lệ lãi ròng, tỷ suất nhập khẩu và cho biết anh (hay chị) có quyết định nhập lô hàng trên hay không, và giải thích rõ lý do
Câu 2:
Giả sử vào ngày thu tiền, tỷ giá trao đổi là 17000 VNĐ/USD.Anh hay chị hãy cho biết việc nhập lô hàng trên còn có lãi hay không? Trong trường hợp không còn lãi, Anh hay chị hãy đề xuất các phương án cụ thể để việc nhập khẩu lô hàng không bị lỗ.

Giải:

Điều đầu tiên phải hiểu đúng là hợp đồng được thực hiện sau 2 tháng, nghĩa là 2 tháng sau đó, doanh nghiệp mới bán được lô hàng và thu được tiền, đây chính là doanh thu. Doanh thu này, doanh nghiệp phải trang trải chi phí tiền hàng cho nhà xuất khẩu Đức, thuế nhập khẩu sẽ còn lại lãi gộp. Lãi gộp này tiếp tục khấu trừ chi phí gián tiếp, trực tiếp, lãi suất tiền vay ngân hàng còn lại lãi ròng.
Trong bài toán này, chỉ có khái niệm tỷ suất nhập khẩu là hơi khó hiểu. Về định nghĩa, đây chính là tỷ số giữa doanh thu (Tính bằng VNĐ) và chi phí (Tính bằng USD). Và nếu tỷ suất nhập khẩu lớn hơn tỷ suất trao đổi thì việc nhập khẩu mới có lời. Ta hãy chứng minh công thức này.
Gọi doanh thu thu được bằng VNĐ là T
Gọi chi phí bằng VNĐ là :CP
Tỷ suất trao đổi là :X
Theo định nghĩa : DT/(CP/X)>X. Điều này tương đương với (DT*X)/CP>X, chuyển X sang vế bên trái, ta viết lại :
X(DT-CP)/CP>0 , rõ ràng, muốn bất đẳng thức thỏa thì DT-CP>0 hay DT>CP .Đó là điều phải chứng minh.
Để dễ hiểu,ta lập bảng sau :

Doanh thu = Giá bán (1)
Chi phí mua = Đơn giá mua (Tính theo USD) * tỷ giá trao đổi (USD/VNĐ) (2)
Thuế nhập khẩu =(2)* Thuế suất nhập khẩu (3)
Lãi gộp =(1)-(2)-(3) (4)
Chi phí trực tiếp =Chi phí mua *% Chi phí trực tiếp (5)
Chi phí gián tiếp = Chi phí mua *% Chi phí gián tiếp (6)
Lãi ngân hàng =((2)+(3)+(5)+(6))*lãi suất*thời gian trả lãi (7)
Giá thành nhập khẩu =(2)+(3)+(5)+(6)+(7) (8)
Lãi ròng =(1)-(7) (9)
Tỷ suất lãi gộp (%) =(4)/(1)*100 (10)
Tỷ suất lãi ròng(%) =(9)/(1)*100 (11)
Tỷ suất nhập khẩu =(1)/((8)/tỷ giá trao đổi) (12)
Nếu (12) >tỷ giá trao đổi thì việc nhập khẩu sẽ có lời

Câu 1: Ở đây các số liệu tính tên 1 tấn hàng nhập
Doanh thu = Giá bán =15.800.000 VNĐ
Chi phí mua =Đơn giá mua x tỷ giá trao đổi =720 x16.000 =11.520.000 VNĐ
Thuế nhập khẩu =11.520.000 *30% =3.456.000 VNĐ
Chi phí mua có thuế = 11.520.000+3.456.000 =14.976.000 VNĐ
Lãi gộp = 15.800.000 – 14.976.000 = 824.000 VNĐ
Tỷ lệ lãi gộp = 824.000/15.800.000=5.22%
Chi phí trực tiếp = 0.5% x 15.800.000=79.000 VNĐ
Chi phí gián tiếp = 0.6% x 15.800.000=94.800 VNĐ
Lãi ngân hàng =(11.520.0000 +3.456.000+79.000+94.800)*0.8%*2=242.397 VNĐ
Giá thành nhập khẩu = Tổng chi phí = 11.520.0000 +3.456.000+79.000+94.800+242.397=15.392.197 VNĐ
Lãi ròng = Doanh thu – Tổng chi phí = 15.800.000-15392.197=407.803 VNĐ
Tỷ lệ lãi ròng = .407.803/15.800.000=2.58%
Tỷ suất nhập khẩu = (Doanh thu VNĐ)/(Chi phí USD)=15.800.000/(15.392.197/16.000)=16.423,91
Tỷ suất nhập khẩu 16.423,91 >16.000 Vậy nên nhập khẩu
Câu 2 :
Tại thời điểm thanh toán 2 tháng sau đó, tỷ giá đô tăng đến 17.000 .
Vậy doanh thu là :15.800.000/17.000 = 929,41 USD
Tổng Chi phí : 15.392.197/16.000 =962 USD
Vậy Doanh thu –Chi phí =Lãi ròng = -33 USD, nghĩa là lỗ 33 USD
Ta tìm các phương án bù lỗ :
Phương án 1 :

Đây có lẽ là phương án dễ hiểu nhất, sợ lỗ thì tăng giá bán lên, tăng lên để bù 33 USD lỗ kia
Vậy giá bán :15.800.000 + (33*17.000)=16.361.000 VNĐ

Phương án 2:

Giả sử không tăng được giá bán thì ta tìm cách giảm giá đầu vào, tức giá mua :
Giá mua <720-33 =687 USD

Phương án 3:

Ta sẽ trả ngay tiền cho đối tác, mà không để kéo dài thêm 2 tháng, nghĩa là ta đã tiết kiệm khỏan tiền vay ngân hàng :
Bây giờ ta còn lỗ :561.000-242.397=318.603VND
Nếu tính ra USD thì còn lỗ = 318.603/17.000 =19 USD
Số lỗ này, do ta thanh toán ngay nên ta yêu cầu bên bán chiết khấu cho 720-19 =701
Vậy ta phải thương lượng để mua giá <701 USD/tấn

Phương án 4:

Ta sẽ trả ngay cho đối tác, không để kéo dài thêm 2 tháng như vậy lúc đó ta sẽ tiết kiệm được khỏan tiền vay ngân hàng giống phương án 3,
Nếu giữ giá bán, giống phương án 3 lỗ 19 USD, và muốn không lỗ thì tăng thêm 19 usd vào giá bán : 15.800.000+318.603=16.118.603 VNĐ
giá : 15.800.000-242.367=15.557.633 VNĐ

Được chieu_cuoi_thu sửa chữa / chuyển vào 17:29 ngày 28/04/2007

SOURCE: http://www9.ttvnol.com

By CNQTDN, # 23. May 2008, 08:51:18

TT and TTR in tool and method of payment

Wednesday, 7. May 2008, 09:31:52

Thanh toán quốc tế, Import and Export, Xuất Nhập Khẩu

TT:
TTR:
1. Điện chuyển tiền (Telegraphic Transfer) đựơc viết tắt là TTr hoặc TT;
2. Chuyển đổi hoàn tiền bằng điện (Telegraphic Transfer Reimbursement)
được viết tắt là TTR;
Telegraphic Transfer (T/T)
The telegraphic transfer/cable transfer or wire transfer is the
equivalent of a cash payment that can be credited directly to the
seller’s account (the name and address of the seller’s bank and the
seller’s bank account number are required by the buyer’s bank). It is
fast and safe. Unlike a payment by cheque or bank draft, in which the
mailing time alone may take several days to few weeks, plus the
clearing time of 3 to 4 weeks for a total of about 4 to 6 weeks before
the seller may receive the cash, by means of T/T the seller may
receive the cash in a few hours or days.
It is important to wait until the T/T has been received before
making the shipment, especially when the integrity of the buyer is
unknown.

* TTR is the abbreviation of Telegraphic transfer reimbursement, this
is the way states that how the Exporter’s bank (EB) claims the
payment. TT is the method of communication by telegraphic between
banks (i.e SWIFT message, telex)
As usual, after receiving documents (docs) from the exporter, EB sends
documents to the Importer’s bank (IB) to claim the payment. If docs
comply with the terms and conditions of L/C, the IB will honor (pay)
that payment within 7 days after date receiving of docs.

If L/C states TT reimbursement allowed, the EB will send docs to IB
and simultaneously will claim payment by T/T. Because this claim is
made and transfered by telegraphic, it very fast, so the exporter may
get their payment faster than usual.

Theo CÔNG VĂN
CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN SỐ 2416/TCHQ-KTTT
NGÀY 13 THÁNG 6 NĂM 2001 VỀ VIỆC PHƯƠNG THỨC
THANH TOÁN QUỐC TẾ
có nói
1. Điện chuyển tiền (Telegraphic Transfer) đựơc viết tắt là TTr hoặc TT;
2. Chuyển đổi hoàn tiền bằng điện (Telegraphic Transfer Reimbursement)
được viết tắt là TTR;

Các bước thực hiện hợp đồng ngoại thương

Monday, 31. March 2008, 11:20:25

Xuất Nhập Khẩu, Import and Export, Kinh te

Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương đã được ký kết, đơn vị kinh doanh XNK – với tư cách là một bên ký kết – phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là một công việc rất phức tạp. Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo đảm được quyền lợi quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của đơn vị.
Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc để thực hiện hợp đồng, đơn vị kinh doanh XNK phải cố gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch. Để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các khâu công việc sau đây: Giục mở L/C và kiểm tra L/C (nếu hợp đồng quy định sử dụng phương thức tín dụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá, thuê tàu hoặc lưu cước, kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá, làm thủ tục hải quan, giao hàng lên tàu, mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toán và giải quyết khiếu nại (nếu có).

Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các khâu công việc sau đây: Xin giấy phép nhập khẩu, mở L/C (nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C), thuê tàu hoặc lưu cước, mua bảo hiểm, làm thủ tục hải quan, nhận hàng chở từ tàu chở hàng, kiểm tra hàng hoá (kiểm dịch và giám định), giao hàng cho đơn vị đặt hàng nhập khẩu, làm thủ tục thanh toán, khiếu nại (nếu có) về hàng hoá bị thiếu hụt hoặc tổn thất.

Như vậy, nói chung trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, đơn vị kinh doanh XNK phải tiến hành các công việc dưới đây:

* Chuẩn bị hàng xuất khẩu.

Thực hiện cam kết trong hợp đồng xuất khẩu, chủ hàng xuất khẩu phải tiến hành chuẩn bị hàng xuất khẩu. Căn cứ để chuẩn bị hàng xuất khẩu là hợp đồng đã ký với nước ngoài và/hoặc L/C (nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C).
Công việc chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm 3 khâu chủ yếu: thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu, đóng gói bao bì và kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu.

Thực hiện cam kết trong hợp đồng xuất khẩu, chủ hàng xuất khẩu phải tiến hành chuẩn bị hàng xuất khẩu. Căn cứ để chuẩn bị hàng xuất khẩu là hợp đồng đã ký với nước ngoài và/hoặc L/C (nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C).

Công việc chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm 3 khâu chủ yếu: thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu, đóng gói bao bì và kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu.

Việc mua bán ngoại thương thường tiến hành trên cơ sở số lượng lớn trong khi đó sản xuất hàng xuất khẩu ở nước ta, về cơ bản, là một nền sản xuất manh mún, phân tán, vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, muốn làm thành lô hàng xuất khẩu, chủ hàng xuất nhập khẩu phải tiến hành thu gom tập trung từ nhiều chân hàng (cơ sở sản xuất – thu mua). Cơ sở pháp lý để làm việc đó là ký kết hợp đồng kinh tế giữa chủ hàng xuất nhập khẩu với các chân hàng.

Hợp đồng kinh tế về việc huy động hàng xuất khẩu có thể là hợp đồng mua bán hàng xuất khẩu, hợp đồng gia công, hợp đồng đổi hàng, hợp đồng uỷ thác thu mua hàng xuất khẩu, hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu, hợp đồng liên doanh liên kết xuất khẩu… Hợp đồng được ký kết theo một số quy tắc chung. Những Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế

Trong buôn bán quốc tế, tuy không ít mặt hàng để trần hoặc để rời, nhưng đại bộ phận hàng hoá đòi hỏi phải được đóng gói bao bì trong quá trình vận chuyển và bảo quản. Vì vậy, tổ chức đóng gói, bao bì, kẻ mã hiệu là khâu quan trọng của việc chuẩn bị hàng hoá. Muốn làm tốt được công việc bao bì đóng gói, một mặt cần phải nắm vững loại bao bì đóng gói mà hợp đồng quy định, mặt khác cần nắm được những yêu cầu cụ thể của việc bao gói để lựa chọn cách bao gói thích hợp.

* Loại bao bì.

Trong buôn bán quốc tế, người ta dùng rất nhiều loại bao bì. Các loại thông thường là:
– Hòm (case, box): Tất cả những hàng có giá trị tương đối cao, hoặc dễ hỏng đều được đóng vào hòm. Người ta thường dùng các loại hòm gỗ thường (wooden case), hòm gỗ dán (plywood case), hòm kép (double case), và hòm gỗ dác kim khí (Metallized case) và hòm gỗ ghép (fiberboard case).
– Bao (bag) : Một số sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu hoá chất thường được đóng vào bao bì. Các loại bao bì thường dùng là: bao tải (gunny bag), bao vải bông (Cottonbag), bao giấy (Paper bag) và bao cao su (Rubber bag).
– Kiện hay bì (bale): Tất cả các loại hàng hoá có thể ép gọn lại mà phẩm chất không bị hỏng thì đều đóng thành kiện hoặc bì, bên ngoài thường buộc bằng dây thép.
– Thùng (barrel, drum): Các loại hàng lỏng, chất bột và nhiều loại hàng khác nữa phải đóng trong thùng. Thùng có loại bằng gỗ (wooden barrel), gỗ dán (plywood barrel), thùng tròn bằng thép (steel drum), thùng tròn bằng nhôm (aluminium drum) và thùng tròn gỗ ghép (fiberboard drum).
Ngoài mấy loại bao bì thường dùng trên đây, còn có sọt (crate), bó (bundle), cuộn (roll), chai lọ (bottle), bình (carboy), chum (jar)…
Các loại bao bì trên đây là bao bì bên ngoài (outer packing). Ngoài ra còn có bao bì bên trong (inner packing) và bao bì trực tiếp (mimediate packing).
Vật liệu dùng để bao gói bên trong là giấy bìa bồi (cardboard), vải bông, vải bạt (tarpauline), vải đay (gunny), giấy thiếc (foil), dầu (oil) và mỡ (grease). Trong bao gói có khi còn phải lót thêm một số vật liệu, thí dụ: Phoi bào (excelsior, wood shaving), giấy phế liệu, (paper waste), nhựa xốp (stiropore)… có khi vải bông cũng được dùng để lót trong.

Trong mấy thập kỷ gần đây, người ta dùng chất tổng hợp để chế ra vật liệu bao gói như các màng mỏng PE, PVC, PP hay PS.
Ngoài ra người ta còn phát triển việc chuyên trở bằng con-tê-nơ (container), cá bản (palette), thùng lều (thiết bị đóng gộp hàng máy bay – igloo) vừa tiết kiệm bao gói, vừa thuận tiện cho việc bốc dỡ và xếp đặt hàng trên phương tiện vận tải.

* Những nhân tố cần được xét đến khi đóng gói.

Yêu cầu chung về bao bì đóng gói hàng hoá ngoại thương là “an toàn, rẻ tiền và thẩm mỹ”. ÿiều này có nghĩa là: Bao bì phải đảm bảo tự nguyên vẹn về chất lượng và số lượng hàng hoá từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, phải bảo đảm hạ giá thành sản phẩm nhưng đồng thời phải bảo đảm thu hút sự chú ý của người tiêu thụ. Khi lựa chọn loại bao bì, loại vật liệu làm bao bì và phương pháp bao bì, chủ hàng xuất nhập khẩu phải xét đến những điều đã thoả thuận trong hợp đồng, thứ đến phải xét đến tính chất của hàng hoá (như lý tính, hoá tính, hình dạng bên ngoài, màu sắc, trạng thái của hàng hoá) đối với những sự tác động của môi trường và của điều kiện bốc xếp hàng… Ngoài ra, cần xét đến những nhân tố dưới đây:
+ Điều kiện vận tải: Khi lựa chọn bao bì, người ta phải xét đến đoạn đường dài, phương pháp và thời gian của việc vận chuyển, khả năng phải chuyển tải ở dọc đường, sự chung đụng với hàng hoá khác trong quá trình chuyên chở…
+ Điều kiện khí hậu: ÿối với những hàng hoá giao cho các nước có độ ẩm không khí cao (tới 90%) và nhiệt độ trung bình tới 30-400C, hoặc hàng hoá đi qua những nước có khí hậu như vậy, bao bì phải là những loại đặc biệt bền vững. Thường thường, đó là những hòm gỗ hoặc bằng kim khí được hàn hoặc gắn kín. Bên trong bao bì là lớp giấy không thấm nước và/hoặc màng mỏng PE. Những bộ phận chế bằng kim loại, dễ bị han rỉ, cần bôi thêm dầu mỡ ở mặt ngoài.
+ Điều kiện về luật pháp và thuế quan.

Ở một số nước, luật pháp cấm nhập khẩu những hàng hoá có bao bì làm làm từ những loại nguyên liệu nhất định.Ví dụ: ở Mỹ và Tân-Tây- Lan, người ta cấm dùng bao bì bằng cỏ khô, rơm, gianh, rạ v.v.. một vài nước khác lại cho phép nhập khẩu loại 1 như vậy nếu chủ hàng xuất trình giấy tờ chứng nhận rằng các nguyên liệu bao bì đẫ được khử trùng. Ngoài ra, phương pháp bao bì đóng gói và vật liệu bao bì đóng gói còn trực tiếp ảnh hưởng tới mức thuế nhập khẩu ở một số nước thuộc khối liên hiệp Anh, hải quan đòi hỏi phải xuất trình những chứng từ về xuất xứ của bao bì để áp dụng suất thuế quan ưu đãi cho những hàng hoá nhập từ các nước trong liên hiệp Anh.

Đối với những hàng chịu thuế theo trọng lượng, có một số nước thu thuế theo “trọng lượng tịnh luật định” là trọng lượng còn lại sau khi đã lấy trọng lượng cả bì của hàng hoá trừ đi trọng lượng bì do hải quan quy định sẵn. Trong trường hợp này, rõ ràng trọng lượng của bao bì có thể ảnh hưởng tới mức thuế quan nhập khẩu.
+ Điều kiện chi phí vận chuyển: Cước phí thường được tính theo trọng lượng cả bì hoặc thể tích của hàng hoá. Vì vậy, rút bớt trọng lượng của bao bì hoặc thu hẹp thể tích của hàng hoá sẽ tiết kiệm được chi phí vận chuyển. Ngoài ra muốn giảm được chi phí vận chuyển còn phải đề phòng trộm cắp trong quá trình chuyên chở. Muốn thoả mãn được những điều kiện này, người ta thường dùng bao bì vừa nhẹ, vừa bền chắc tận dụng không gian của bao bì, thu nhỏ bản thân hàng hoá lại, đồng thời không để lộ dấu hiệu của hàng hoá được gói bên trong bao bì…
Ký mã hiệu (marking) là những ký hiệu bằng chữ, bằng số hoặc bằng hình vẽ được ghi trên các bao bì bên ngoài nhằm thông báo những chi tiết cần thiết cho việc giao nhận, bốc dỡ hoặc bảo quản hàng hoá.
Kẻ ký mã hiệu là một khâu cần thiết của quá trình đóng gói bao bì nhằm:
– Bảo đảm thuận lợi cho công tác giao nhận.
– Hướng dẫn phương pháp, kỹ thuật bảo quản, vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá.

Ký mã hiệu cần phải bao gồm:

+ Những dấu hiệu cần thiết đối với người nhận hàng như: tên người nhận và tên người gửi, trọng lượng tịnh và trọng lượng cả bì, số hợp đồng, số hiệu chuyến hàng, số hiệu kiện hàng.
+ Những chi tiết cần thiết cho việc tổ chức vận chuyển hàng hoá như: tên nước và tên địa điểm hàng đến, tên nước và tên địa điểm hàng đi, hành trình chuyên chở, số vận đơn, tên tàu, số hiệu của chuyến đi.
+ Những dấu hiệu hướng dẫn cách xếp đặt, bốc dỡ và bảo quản hàng hoá trên đường đi từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, như: dễ vỡ, mở chỗ này, tránh mưa, nguy hiểm…
Việc kẻ ký mã hiệu cần phải đạt được yêu cầu sau: Sáng sủa, dễ đọc, không phai màu, không thấm nước, sơn (hoặc mực) không làm ảnh hưởng đến phẩm chất hàng hoá.
Để làm hình thành một lô hàng, ngoài những công việc trên đây, đơn vị kinh doanh xuất khẩu còn phải kiểm tra hàng hoá và lấy giấy chứng nhận sự phù hợp của hàng hoá với quy định của hợp đồng (giấy chứng nhận phẩm chất, giấy chứng nhận kiểm dịch…).

Kiểm tra chất lượng

– Kiểm nghiệm và kiểm nghiệm hàng xuất khẩu.
Trước khi giao hàng, người xuất khẩu có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng về phẩm chất, số lượng trọng lượng, bao bì (tức kiểm nghiệm) hoặc nếu hàng hoá xuất khẩu là động vật, thực vật phải kiểm tra lây lan bệnh dịch (tức kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật). Việc kiểm nghiệm và kiểm dịch được tiến hành ở hai cấp: ở cơ sở và ở cửa khẩu. trong đó việc kiểm tra ở cơ sở ) tức ở đơn vị sản xuất, thu mua chế biến, như các nước xí nghiệp …) có vai trò quyết định nhất và có tác dụng triệt để nhất. Còn việc kiểm tra hàng hoá ở cửa khẩu có tác dụng thẩm tra lại kết quả kiểm tra ở cơ sở và thực hiện thủ tục quốc tế .
Việc kiểm nghiệm ở cơ sở là do tổ chức kiểm tra “chất lượng sản phẩm”(KCS) tiến hành. Tuy nhiên thủ trưởng đơn vị vẫn là người chịu trách nhiệm về phẩm chất hàng hoá. Vì vậy trên giấy chứng nhận phẩm chất, bên cạnh những chữ ký của bộ phận KCS, phải có chữ ký của thủ trưởng đơn vị.
Việc kiểm dịch thực vật ở cơ sở là do phòng bảo vệ thực vật (của huyện, quận, hoặc ở nông trường tiến hành. Việc kiểm dịch động vật ở cơ sở là phòng (hoặc trạm) thú y (của huyện, quận hoặc của nông trường) tiến hành.
Cục thú y và Cục bảo vệ thực vật đều có chi nhánh ở các cửa khẩu (như cảng, ga quốc tế). Công ty giám định hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đặt ở các trạm và các chi nhánh công ty. Do đó nếu có yêu cầu kiểm tra hàng hoá ở các cửa khẩu trước khi gửi hàng xuất khẩu, chủ cửa hàng phải đề nghị các cơ quan chứng nhận (về phẩm chất hoặc về sự kiểm dịch) đối với hàng hoá trong thời hạn chạm nhất là 7 ngày trước khi hàng được bốc xuống tàu.

– Kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu.

Theo tinh thần các quy định của Việt Nam, hàng nhập khẩu khi về qua cửa khẩu cần được kiểm tra kỹ càng, mỗi cơ quan tuý theo chức năng của mình phải tiến hành công việc kiểm tra đó.
Cơ quan giao thông (ga cảng) phải kiểm tra niêm phong cặp chì trước khi dỡ hàng ra khỏi phương tiện vận tải. Nếu hàng có thể có tổn thất hoặc xếp đặt không theo lô, theo vận đơn thì cơ quan giao thông mời công ty giám định lập biên bản giám định dưới tàu (Survery Reports). Nếu hàng chuyên chở đường biển mà bị thiếu hụt, mất mát phải có ” biên bản kết toán nhận hàng với tàu” (Report on receipt of cargo) còn nếu bị đõ vỡ -phải có ” biên bản hàng đổ vỡ hư hỏng” (Cargo outturn report). Nếu tàu chở hàng đã nhổ neo rồi việc thiếu hụt mới bị phát hiện, chủ cửa hàng yêu cầu VOSA cấp ” giấy chứng nhận hàng thiếu” (Certificate of shortlanded cargo).
Doanh nghiệp nhập khẩu, với tư cách là một bên đứng tên trên vận đơn, phải lập thư dự kháng (letter of reservation), nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất sau đó phải yêu cầu công ty bảo hiểm lập biên bản giám định (Survey report), nêu tổn thất xảy ra bởi những rủi ro đã được mua bảo hiểm. Trong những trường hợp khác phải yêu cầu công ty giám định tiến hành kiểm tra hàng hoá và lập chứng thư giám định (Inspection certificate).

Các cơ quan kiểm dịch phải thực hiện nhiệm vụ kiểm dịch nếu hàng nhập khẩu là động hoặc thực vật.
Thuê tàu lưu cước
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương việc thuê tàu chở hàng được tiến hành dựa vào ba căn cứ sau đây: Những điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điều kiện vận tải.
Chẳng hạn nếu điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng xuất khẩu là CIF hoặc C and F (cảng đến) hoặc của hợp đồng nhập khẩu là FOB ( cảng đi) thì chủ hàng xuất nhập khẩu phải thuê tàu biển để chở hàng. Tàu này có thể là tàu chuyến nếu hàng có khối lượng lớn và để trần (bulk cargo). Do đó có thể có tàu chợ (liner) nếu hàng lẻ tẻ, lặt vặt, đóng trong bao kiện (general cargo) và trên đường hàng đi có chuyến tàu chợ (regular line). Việc thuê khoang tàu chợ còn gọi là lưu cước (Booking a ship’s space).
Nếu ở điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng xuất khẩu là CPT (cảng đến) hoặc CIP (cảng đến) hoặc của hợp đồng nhập khẩu là FCA (cảng đi), thì chủ của hàng xuất nhập khẩu phải thuê container hoặc tàu Ro/Ro để chở hàng. Trong trường hợp chuyển chở hàng bằng container, hàng được giao cho người vận tải theo một trong hai phương thức:
– Nếu hàng đủ một container (Full container load – FCL), chủ cửa hàng phải đăng ký thuê container, chịu chi phí chở container rỗng từ bãi container (Container yard Cy) về cơ sở của mình, đóng hàng vào container, rồi giao cho người vận tải.
– Nếu hàng không đủ một container (less than container load – LCL), chủ cửa hàng phải giao hàng cho người vận tải tại ga container (container freight station – CFS).
Việc thuê tàu, lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về tình hình thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, chủ hàng xuất nhập khẩu thường uỷ thác việc thuê tàu, lưu cước cho một công ty hàng hải như: công ty thuê tàu và môi giới hàng hải (Vietfracht), công ty đại lý tàu biển (VOSA)…
Cơ sở pháp lý điều tiết mối quan hệ giữa hai bên uỷ thác thuê tàu với bên nhận uỷ thác thuê tàu là hợp đồng uỷ thác. Có hai loại hợp đồng uỷ thác thuê tàu:
– Hợp đồng uỷ thác thuê tàu cả năm.
– Hợp đồng uỷ thác chuyến.
Chủ hàng xuất nhập khẩu căn cứ vào đặc điểm vận chuyển của hàng hoá để lựa chọn loại hình hợp đồng cho thích hợp.

Mua bảo hiểm.
Hàng hoá chuyển chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương.
Các chủ hàng xuất nhập khẩu của ta, khi cần mua bảo hiểm đều mua tại công ty Việt Nam. Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm bao (open policy) hoặc là hợp đồng bảo hiểm chuyến (voyage policy). Khi mua bảo hiểm bao, chủ hàng (tức đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu) ký hợp đồng từ đầu năm, còn đến khi giao hàng xuống tàu xong chủ hàng chỉ gửi đến công ty bảo hiểm một thông báo bằng văn bản gọi là: “Giấy báo bắt đầu vận chuyển” khi mua bảo hiểm chuyến, chủ hàng phải gửi đến công ty bảo hiểm một văn bản gọi là: “Giấy yêu cầu bảo hiểm “. Trên sở “Giấy yêu cầu…”này, chủ hàng và công ty bảo hiểm đàm phán ký kết hợp đồng bảo hiểm.

Làm thủ tục hải quan.
Hàng hoá khi đi ngang qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hoặc nhập khẩu đều phải làm thủ hải quan. Việc làm thủ tục hải quan gồm ba bước chủ yếu sau đây:
– Khai báo hải quan.
Chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hoá lên tờ khai (customs declanration) để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Yêu cầu của việc khai này là trung thực và chính xác. Nội dung của tờ khai bao gồm những mục như : Loại hàng, (hàng mậu dịch, hàng trao đổi tiểu ngạch biên giới hàng tạm nhập tái xuất…), tên hàng, số, khối lượng, giá trị hàng, tên công cụ vận tải, xuất khẩu hoặc nhập khẩu với nước nào… tờ khai hải quan phải được xuất trình kèm theo một số chứng từ khác, mà chủ yếu là: giấy phép xuất nhập khẩu, hoá đơn phiếu đóng gói, bảng kê chi tiết.
– Xuất trình hàng hoá.
Hàng hoá xuất nhập khẩu phải được xắp xếp trật tự thuận tiện cho việc kiểm soát. Chủ hàng phải chịu chi phí và nhân công về việc mở, đóng các kiện hàng. Yêu cầu của việc xuất trình hàng hoá cũng là sự trung thực của chủ hàng. Để thực hiện thủ tục kiểm tra và giám sát chủ hàng phải nộp thủ tục phí hải quan.
– Thực hiện các quyết định của hải quan.
Sau khi kiểm soát giấy tờ và hàng hoá, hải quan sẽ ra những quyết định như: Cho hàng được phép ngang qua biên giới (thông quan), cho hàng đi qua một cách có điều kiện (như phải sửa chữa, phải bao bì lại…) cho hàng đi qua sau khi chủ hàng đã nộp thuế; lưu kho ngoại quan (bonded warehouse) hàng không được xuất (hoặc nhập) khẩu… nghĩa vụ của chủ hàng là phải nghiêm túc thực hiện các quyết định đó. Việc vi phạm các quyết định đó thuộc tội hình sự.
Giao nhận hàng với tàu.
– Giao hàng xuất khẩu.
Hàng xuất khẩu của ta được giao, về cơ bản, bằng đường biển và đường sắt. Nếu hàng được giao bằng đường biển, chủ hàng phải tiến hành các việc sau:
+ Căn cứ vào chi tiết hàng xuất khẩu, lập bảng đăng ký hàng chuyên chở cho người vận tải (đại diện hàng hải hoặc thuyền trưởng hoặc Công ty đại lý tàu biển) để đổi lấy sơ đồ xếp hàng (Stowage plan).
+ Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng.
+ Bố trí phương tiện đem hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu.
+ Lấy biên lai thuyền phó (Mate,s receipt) và đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển.
Vận đơn đường biển phải là vận đơn hoàn hảo, đã bốc hàng( Clean on board B/L) và phải chuyển nhượng được ( Negotiable).
Nếu hàng hoá được giao bằng container khi chiếm đủ một container (FCL), chủ hàng phải đăng lý thuê container, đóng hàng vào container và lập bảng kê hàng trong container (container list). Khi hàng giao không chiếm hết một container (LCL), chủ hàng phải lập “bản đăng ký hàng chuyên chở” (cargo list). Sau khi đăng ký được chấp thuận , chủ hàng giao hàng đến ga container cho người vận tải.
Nếu hàng hoá chuyên chở bằng đường sắt, chủ hàng phải kịp thời đăng ký với cơ quan đường sắt để xin cấp toa xe phù hợp với tính chất hàng hoá và khối lượng hàng hoá. Khi đã dược cấp toa xe, chủ hàng tổ chức bốc xếp hàng, niêm phong cặp chì làm các chứng từ vận tải, trong đó chủ yếu là vận đơn đường sắt.
– Giao nhận hàng nhập khẩu.
Các cơ quan vận tải (ga, cảng) có trách nhiệm tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu trên các phương tiện vận tải từ nước ngoài vào, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi và giao cho các đơn vị đặt hàng theo lệnh giao hàng của tổng công ty đã nhập hàng từ đó.
Do đó đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp hoặc thông qua một đơn vị nhận uỷ thác giao nhận ( như Vietrans chẳng hạn), tiến hành:
+ Ký kết hợp dồng uỷ thác cho cơ quan vận tải (ga, cảng) về việc giao nhận hàng từ tàu ở nước ngoài về.
+ Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng nhập khẩu từng năm, từng quý, lịch tàu, cơ cấu mặt hàng điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận chuyển giao nhận.
+ Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng hoá (như vận đơn, lệnh giao hàng…) nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải.
+ Thông báo cho các đơn vị trong nước đặt mua hàng nhập khẩu (nếu hàng nhập khẩu cho một đơn vị trong nước) về dự kiến ngày hàng về, ngày thực tế tàu chở hàng về đến cảng hoặc ngày toa xe chở hàng về sân ga giao nhận.
+ Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp bảo quản và vận chuyển hàng nhập khẩu.
+ Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập những biên bản (nếu cần) về hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong việc giao nhận.
Trong trường hợp hàng nhập khẩu xếp trong container có thể là một trong hai khả năng sau:
+ Nếu hàng đủ một container (FCL), cảng giao container cho chủ hàng nhận về cơ sở của mình và hải quan kiểm hoá tại cơ sở.
+ Nếu hàng không đủ một container (LCL), cảng giao container cho chủ hàng có nhiều hàng nhất mang về cơ sở để dỡ hàng, phân chia, với sự giám sát của hải quan. Nếu cảng là người mở container để phân chia thì chủ hàng làm thủ tục như nhận hàng lẻ.

Làm thủ tục thanh toán.

– Thanh toán bằng thư tín dụng.
+ Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định việc thanh toán bằng thư tín dụng, đơn vị kinh doanh xuất khẩu phải đôn đốc người mua ở nước ngoài mở thư tín dụng (L/C) đúng hạn và sau khi nhận được L/C phải kiểm tra L/Cvà khả năng thuận tiện trong việc thu tiền hàng xuất khẩu L/C đó. Nếu L/C không đáp ứng được những yêu cầu này, cần phải buộc người mua sửa đổi lại rồi ta mới giao hàng.
Khi lập bộ chứng từ thanh toán, những điểm quan trọng cần được quán triệt là: Nhanh chóng, chính xác, phù hợp với những yêu cầu của L/C cả về nội dung lẫn hình thức.

+ Thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Khi hợp đồng nhập khẩu quy định tiền hàng thanh toán bằng L/C, một trong các việc đầu tiên mà bên mua phải làm để thực hợp đồng đó là việc mở L/C .
Thời gian mở L/C, nếu hợp đồng không quy định gì, phụ thuộc vào thời gian giao hàng. Thông thường L/C được mở khoảng 20 – 25 ngày trước khi đến thời gian giao hàng (nếu khách hàng ở Châu Âu).
Căn cứ mở L/C là các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu. Khi mở L/C, Tổng công ty hoặc công ty xuất nhập khẩu dựa vào căn cứ này để điền vào một mẫu gọi là ” Giấy xin mở tín dụng khoản nhập khẩu”.
Giấy xin mở tín dụng khoản nhập khẩu kèm theo bản sao hợp đồng và giấy phép nhập khẩu được chuyển đến ngân hàng ngoại thương cùng với hai uỷ nhiệm chi: một uỷ nhiệm chi đã ký quỹ theo quy định về việc mở L/C và một uỷ nhiệm chi nữa để trả thủ tục phí cho ngân hàng về việc mở L/C.
Khi bộ chứng từ gốc từ nước ngoài về đến ngân hàng ngoại thương đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải kiểm tra chứng từ và nếu chứng từ hợp lệ, trả tiền cho ngân hàng. Có như vậy, đơn vị kinh doanh nhập khẩu mới nhận được chứng từ để đi nhận hàng.

– Thanh toán bằng phương thức nhờ thu.
Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định thanh toán tiền hàng bằng phương thức nhờ thu thì ngay sau khi giao hàng, đơn vị kinh doanh xuất khẩu phải hoàn thành việc lập chứng từ và xuất trình cho ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng việc thu đòi tiền.
Chứng từ thanh toán cần được lập hợp lệ, chính xác và được nhanh chóng giao cho ngân hàng nhằm nhanh chóng thu hồi vốn.
Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán tiền hàng bằng phương thức nhờ thu thì sau khi nhận hàng chứng từ ở ngân hàng ngoại thương, đơn vị kinh doanh nhập khẩu được kiểm tra chứng từ trong một thời gian nhất định, nếu trong thời gian này, đơn vị kinh doanh nhập khẩu không có lý do chính đáng từ chối thanh toán thì ngân hàng xem như yêu cầu đòi tiền hợp lệ. Quá thời hạn quy định cho việc kiểm tra chứng từ, mọi tranh chấp giữa bên bán và bên mua về thanh toán tiền hàng sẽ được trực tiếp giải quyết giữa các bên đó hoặc qua cơ quan trọng tài.
Khiếu nại và giải quyết khiếu nại.

– Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng xuất nhập khẩu phát hiện thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, đỗ vỡ thiếu hụt, mất mát, thì cần lập hồ sơ khiếu nại ngay để khỏi bỏ lỡ thời gian khiếu nại.
Đối tượng khiếu nại là người bán, nếu hàng có chất lượng, hoặc số lượng không phù hợp với hợp đồng, có bao bì không thích đáng, thời hạn giao hàng bị vi phạm, hàng giao không đồng bộ, thanh toán nhầm lẫn…
Đối tượng khiếu nại là người vận tải nếu hàng bị tổn thất trong quá trình chuyên chở hoặc nếu sự tổn thất đó do lỗi cuả người vận tải gây nên.
Đối tượng khiếu nại là công ty bảo hiẻm nếu hàng hoá – đối tượng của bảo hiểm bị tổn thất do thiên tai, tại nạn bất ngò hoặc do lỗi của người thứ ba gây nên, khi những rủi ro này đã được mua bảo hiểm.
Đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất (như biên bản giám định, COR, ROROC hay CSC v.v…), hoá đơn , vận đơn đường biển, đơn bảo hiểm (nếu khiếu nại công ty bảo hiểm ) v.v…
Khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nếu chủ hàng xuất khẩu bị khiếu nại đòi bồi thường, cần phải có thái độ nghiêm túc, thận trọng trong việc xem xét yêu cầu của khách hàng (người nhập khẩu). Việc giải quyết phải khẩn trương kịp thời có tình có lý.

Nếu khiếu nại của khách hàng là cơ sở, chủ hàng xuất khẩu có thể giải quyết bằng một trong những phương pháp như:
+ Giao hàng thiếu.
+ Giao hàng tốt thay thế hàng kém chất lượng.
+ Sữa chữa hàng hỏng;
+ Giảm giá hàng mà số tiền giảm giá được trang trải bằng hàng hoá giao vào thời gian sau đó.
– Nếu việc khiếu nại không được giải quyết thỏa đáng hai bên có thể kiện nhau tại hội đồng trọng tài (nếu thoả thuận trọng tài) hoặc tại Toà án.

Chứng từ là những văn bản chứa đựng những thông tin (về hàng hoá, về vận tải, bảo hiểm v.v..) dùng để chứng minh sự việc, làm cơ sở cho việc thanh toán tiền hàng hoặc khiếu nại đòi bồi thường…
Những chứng từ cơ bản của quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoaị thương là những chứng từ xác nhận việc chấp hành hợp đồng đó, như là xác nhận việc người bán giao hàng, việc chuyên chở hàng, việc bảo hiểm hàng hoá, việc làm thủ tục hải quan.

Những chứng từ này bao gồm nhiều loại, mỗi loại có nội dung và hình thức khác nhau. Nhưng nói chung, chúng đều được trình bày trên những mẫu in sẵn. Những chi tiết chung cho nội dung của tất cả các chứng từ là: tên của tổng công ty hoặc công ty xuất nhập khẩu, địa chỉ, số điện thoại và điện tín của nó, tên chứng từ, ngày tháng và nơi lập chứng từ, số hợp đồng và ngày tháng ký kết hợp đồng, tên tàu chở hàng và số vận đơn, tên hàng và mô tả hàng hoá, số lượng, (số kiện trọng lượng cả bì, trọng lượng tịnh), loại bao bì và ký mã hiệu hàng hoá.
Căn cứ vào chức năng của chúng, các chứng từ được chia thành các loại: Chứng từ hàng hoá , chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm, chứng từ kho hàng và chứng từ hải quan. Ngoài ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên luôn tiếp xúc với các phương tiện tín dụng như Hối Phiếu, séc v.v…
Chứng từ hàng hoá có tác dụng nói rõ đặc điểm về giá trị, chất lượng và số lượng của hàng hoá. Những chứng từ này do người xuất trình và người mua sẽ trả tiền khi nhận được chúng. Những chứng từ chủ yếu của loại này là hoá đơn thương mại, bảng kê chi tiết, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận phẩm chất.
Hóa đơn thương mại (Commercial invoice): là chứng từ cơ bản của khâu công tác thanh toán. Nó là yêu cầu của người bán đòi hỏi người mua phải trả số tiền hàng đã được ghi trên hoá đơn. Hoá đơn nói rõ đặc điểm hàng hoá, đơn giá và tổng trị giá của hàng hoá ; điều kiện cơ sở giao hàng; phương thức thanh toán; phương thức chuyên chở hàng.
Hoá đơn thường được lập làm nhiều bản và được dùng trong nhiều việc khác nhau: hoá đơn được xuất trình chẳng những cho ngân hàng để đòi tiền hàng mà còn cho công ty bảo hiểm để tính phí bảo hiểm khi mua bảo hiểm hàng hoá cho cơ quan quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu để xin cấp ngoại tệ, cho hải quan để tính tiền thuế.

Theo chức năng của nó, hoá đơn có thể được phân loại thành:
– Hoá đơn tạm tính (Provisional invoice): là hóa đơn dùng trong việc thanh toán sơ bộ tiền hàng trong các trường hợp như: Giá hàng mới là giá tạm tính; việc nhận hàng về số lượng và chất lượng được thực hiện ở cảng đến; hàng hoá được giao làm nhiều lần mà mỗi lần chỉ thanh toán một phần cho đến khi bên giao hàng xong mới thanh toán dứt khoát v.v…
– Hoá đơn chính thức (Final Invoice): là hoá đơn để dùng thanh toán cuối cùng tiền hàng.
– Hoá đơn chi tiết (Detailed invoice): các tác dụng phân tích chi tiết các bộ phận của giá hàng.
– Hoá đơn chiếu lệ (Proforma invoice): là loại chứng từ có hình thức như hoá đơn, nhưng không dùng để thanh toán bởi vì nó không phải là yêu cầu đòi tiền. Tuy nhiên điểm giống nhau trong chức năng của nó với hoá đơn thông thường là: Nó nói rõ giá cả và đặc điểm của hàng hoá. Vì vậy nó có tác dụng đại diện cho số hàng hoá gửi đi triển lãm, để gửi bán hoặc có tác dụng làm đơn chào hàng hoặc để làm thủ tục xin nhập khẩu.
– Hoá đơn trung lập (Neutral invoice): trong đó không ghi rõ tên người bán.
– Hoá đơn xác nhận (Certified invoice): là hoá đơn có chữ ký của phòng thương mại và công nghiệp, xác nhận về xuất xứ của hàng hoá. Nhiều khi hoá đơn này được dùng như một chứng từ kiêm cả chức năng hoá đơn lẫn chức năng giấy chứng nhận xuất xứ.

Trong buôn bán quốc tế, người ta còn sử dụng hai loại hoá đơn, nhưng không tính chúng về chứng từ hàng hoá mà lại coi chúng là chứng từ hải quan. ÿó là: Hoá đơn hải quan (Custom’s Invoice) là hoá đơn tính toán trị giá hàng theo giá tính thuế của hải quan và tính toán các khoản lệ phí của hải quan. Hoá đơn này ít quan trọng trong lưu thông.
– Hóa đơn lãnh sự (Consular invoice): là hoá đơn xác nhận của lãnh sự nước người mua đang làm việc ở nước người bán. Hoá đơn lãnh sự có tác dụng thay thế cho giấy chứng nhận xuất xứ (xem mục chứng từ hải quan).
Bảng kê chi tiết (Specification)
Là chứng từ về chi tiết hàng hoá trong lô hàng. Nó tạo điều kiện thuận tiện cho việc kiểm tra hàng hoá. Ngoài ra nó có tác dụng bổ sung cho hoá đơn khi lô hàng bao gồm nhiều loại hàng có tên gọi khác nhau và có phẩm cấp khác nhau.

Phiếu đóng gói (Packing list)
Là bảng kê khai tất cả các hàng hoá đựng trong một kiện hàng (hòm, hộp, container).v.v…
Phiếu đóng gói được đặt trong bao bì sao cho người mua có thể dễ dàng tìm thấy, cũng có khi được để trong một túi gắn ở bên ngoài bao bì.
Phiếu đóng gói ngoài dạng thông thường, có thể là phiếu đóng gói chi tiết (Detailed packing list) nếu nó có tiêu đề như vậy và nội dung tương đối chi tiết hoặc là phiếu đóng gói trung lập (Neutrai packing list) nếu nội dung của nó không chỉ ra tên người bán. Cũng có khi, người ta còn phát hành loại phiếu đóng gói kiêm bản kê trọng lượng (Packing and Weight list).

Giấy chứng nhận phẩm chất (Certiicate of quality)
Là chứng từ xác nhận chất lượng của hàng thực giao và chứng minh phẩm chất hàng phù hợp với các điều khoản của hợp đồng. Nếu hợp đồng không quy định gì khác, giấy chứng nhận phẩm chất có thể do xưởng hoặc xí nghiệp sản xuất hàng hoá, cũng có thể do cơ quan kiểm nghiệm (hoặc giám định) hàng xuất khẩu cấp.
Trong số các giấy chứng nhận phẩm chất, người ta phân biệt giấy chứng nhận phẩm chất thông thường và giấy chứng nhận phẩm chất cuối cùng (Final certificate). Giấy chứng nhận phẩm chất cuối cùng có tác dụng khẳng định kết quả việc kiểm tra phẩm chất ở một địa điểm nào đó do hai bên thoả thuận.

Giấy chứng nhận số lượng (Contificate of quantity).
Là chứng từ xác nhận số lượng của hàng hoá thực giao. Chứng từ này được dùng nhiều trong trường hợp hàng hoá mua bán là những hàng tính bằng số lượng (cái, chiếc) như: chè gói, thuốc lá đóng bao, rượu chai v.v… Giấy này có thể do công ty giám dịnh cấp.

Giấy chứng nhận trọng lượng (Certificate of quantity). Là chứng từ xác nhận số lượng của hàng hoá thực giao, thường được dùng trong mua bán những hàng mà trị giá tính trên cơ sở trọng lượng.

Chứng từ vận tải là chứng từ do người chuyên chở cấp xác nhận rằng mình đã nhận hàng để chở. Các chứng từ vận tải thông dụng nhất là:
– Vận đơn đường biển ; Biên lai thuyền phó ; biên lai của cảng; giấy gửi hàng đường biển, v.v…
– Vận đơn đường sắt, khi hàng được chuyên chở bằng đường sắt;
– Vận đơn đường không, khi hàng được chuyên chở bằng máy bay.
ÿó là chứng từ do người chuyên chở (chủ tàu, thuyền trưởng) cấp cho người gửi hàng nhằm xác nhận việc hàng hoá đã được tiếp nhận để chở. Vận đơn đường biển có ba chức năng cơ bản:
– Là biên lai của người vận tải về việc đã nhận hàng để chở;
– Là bằng chứng của hợp đồng chuyên chở đường biển;
– Là chứng chỉ về quyền sở hữu hàng hoá ;
Biên lai thuyền phó ( Mates receipt).
Là giấy xác nhận của thuyền phó phụ trách về hàng hoá trên tàu về việc đã nhận hàng chuyên chở. Trong biên lai thuyền phó, người ta ghi kết quả của việc kiểm nhận hàng hoá mà các nhân viên kiểm kiện của tàu (Ships tallymen) đã tiến hành trong khi hàng hoá được bốc lên tàu.
Biên lai thuyền phó không phải là chứng chỉ sở hữu hàng hoá vì thế người ta thường phải đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển, trừ trường hợp điều kiện của hợp đồng mua bán cho phép.

Giấy gửi hàng đường biển (Sea waybill).
Giấy gửi hàng đường biển là chứng từ thay thế cho vận đơn đường biển. Tuy nhiên giấy gửi hàng đường biển thường được ký phát đích danh cho nên không có tác dụng chuyển nhượng (negotiable). Nó chỉ được dùng trong trường hợp hai bên mua bán quen thuộc nhau và thường thanh toán bằng cách ghi sổ.

Phiếu gửi hàng (Shipping note).
Phiếu gửi hàng là do chủ hàng giao cho người chuyên chở để đề nghị lưu khoang xếp hàng lên tàu đây là một cam kết gửi hàng và là cơ sở để chuẩn bị lập vận đơn.
Bản lược khai hàng (Manifest).
Bản lược khai hàng là chứng từ kê khai hàng hoá trên tàu (canifest), cung cấp thông tin về tiền cước (freight manifest). Bản lược khai thường do đại lý tàu biển soạn và được dùng để khai hải quan và để cung cấp thông tin cho người giao nhận hoặc cho chủ hàng.
Sơ đồ xếp hàng (Stowage plan – Cargo plan).
Sơ đồ xếp hàng là bản vẽ vị trí sắp đặt các lô hàng ở trên tàu. Nắm được sơ đồ này chúng ta có thể biết được thời gian cần phải bốc hàng lên tàu, đồng thời biết được lô hàng của mình được đặt cạnh lô hàng nào.
Bản kê sự kiện (Satement of facts).
Đó là bản kê những hiện tượng thiên nhiên và xã hội liên quan đến việc sử dụng thời gian bốc/dỡ hàng (ví dụ như mưa, nghỉ lễ không thể tiếp tục bốc/ dỡ hàng). Bản kê này là cơ sở để tính toán thưởng phạt bốc/ dỡ hàng).
Bản tính thưởng phạt bốc dỡ (Time – sheet).
Đó là bản tổng hợp thời gian tiết kiệm được hoặc phải kéo dài quá thời hạn bốc/dỡ hàng quy định. Trên cơ sở đó, người ta tính toán được số tiền thưởng hoặc tiền phạt về việc bốc/dỡ hàng.
Biên bản kết toán nhận hàng ( Report on Receipt of Cargies – ROROC).
Đó là biên bản ký kết giữa cảng (kho hàng của cảng) với lãnh đạo tàu về tổng số kiện hàng được giao và nhận giữa họ.
Biên bản hàng đổ vỡ hư hỏng (Cargo outturn Report- COR).
Là biên bản ký kết giữa cảng (kho hàng của cảng về tình trạng hư hỏng, đổ vỡ, tổn thất của hàng hoá khi được dỡ từ tàu xuống cảng.
Giấy chứng nhận hàng thiếu (Certificate of shortlanded cargo – CSC).
Là chứng từ do công ty ÿại lý tài biển (Vietnam Ocean shipping Agency – VOSA) cấp sau khi kiểm tra về hàng hoá được dỡ từ tàu biển xuống cảng.

Vận đơn đường sắt (Waybill, bill of freight, railroad bill of lading).
Là chứng từ vận tải cơ bản trong việc chuyên chở hàng hoá bằng đường sắt. Vận đơn đường sắt có chức năng là bằng chứng của hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường sắt và là biên lai của cơ quan đường sắt xác nhận đã nhận hàng để chở.
Trong vận đơn đường sắt thường có những chi tiết cơ bản như: Tên người gửi hàng; tên, địa chỉ người nhận hàng; tên ga đi; tên ga đến và tên của ga biên giới thông qua; tên hàng, số lượng kiện, trọng lượng cả bì của hàng hoá tiền cước chuyên chở. Cơ quan đường sắt thường ký kết phát một bản chính của vận đơn đường sắt và một số bản phụ (duplicate). Bản chính được gửi kèm theo hàng và sẽ được trao cho người nhận hàng. Bản phụ được trao cho người gửi hàng để người này dùng trong việc của mình như: thanh toán tiền hàng thông báo giao hàng.

http://my.opera.com/CNQTDN/blog/xuat-nhap-khau

Một số lưu ý trong thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu

Wednesday, 2. April 2008, 01:42:59

Kinh te, Xuất Nhập Khẩu, Import and Export, Law

UCP là bộ quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ trong xuất nhập khẩu,vừa được Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) hoàn tất. Trong đó quy định quyền hạn trách nhiệm của các bên liên quan trong giao dịch tín dụng chứng từ.

Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) đã hoàn tất và ban hành bản sửa đổi Quy tắc và Thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ trong xuất nhập khẩu (UCP 600), áp dụng từ ngày 1/7/2007. UCP được ban hành lần đầu tiên vào năm 1933 nhằm thống nhất các quy định trong hoạt động thanh toán quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thanh toán xuất nhập khẩu. Toàn bộ phiên bản này đã được Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Nội giới thiệu cụ thể tại Hội thảo chuyên đề “Tài trợ xuất nhập khẩu” vừa diễn ra tại Hà Nội.

UCP 600 là bản sửa đổi lần thứ sáu của ICC. Điểm mới của UCP 600 lần này là quy định cụ thể và chi tiết nghĩa vụ, trách nhiệm của các ngân hàng tham gia thanh toán và trách nhiệm của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu; quy định chi tiết các mức phí áp dụng chung trên toàn thế giới đối với từng loại giao dịch, giúp hoạt động xuất nhập khẩu thuận tiện hơn; thời gian kiểm tra chứng từ chỉ mất 5 ngày làm việc thay vì 7 ngày như trước.

Bà Lê Thị Phương Lan, Trưởng phòng thanh toán quốc tế Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Nội cho biết: Sử dụng UCP doanh nghiệp có nhiều cái lợi. Đối với các nhà nhập khẩu thì có thể đảm bảo được thứ nhất về vốn, sử dụng tài trợ thương mại. Thứ hai là đảm bảo về mặt chứng từ, có nghĩa là chứng từ phát hành từ bên thứ 3 hoặc về các hãng vận tải, bảo hiểm, công ty kiểm định chất lượng thứ 3. Đương nhiên về sử dụng quan hệ L/C thông qua UCP thì nó cũng giảm thiểu các tranh chấp có thể xảy ra giữa người mua và người bán. Tương tự với hàng xuất khẩu cũng vậy. Nhà xuất khẩu đảm bảo được khả năng thanh toán rất cao và cũng có thể có được những tài trợ xuất khẩu đối với cả phía ngân hàng phục vụ mình.

Theo kết quả điều tra toàn cầu do ICC thực hiện năm 2006, có khoảng 70% chứng từ xuất trình theo tín dụng thư đã bị ngân hàng từ chối ở lần xuất trình đầu tiên vì có sai sót, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cả về thời gian và tiền bạc (thông thường mỗi lần làm lại chứng từ doanh nghiệp phải tốn từ 50 – 100USD). Điều này cho thấy nhiều doanh nghiệp chưa hiểu hết về các quy tắc trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu.

Từ thực tế này, Ông Nguyễn Quốc Huy, Giám đốc Công ty vật tư khoa học kỹ thuật, đề xuất ý kiến: “Chúng tôi rất muốn có những tư vấn ngay cả khi ký hợp đồng với nước ngoài để tư vấn cho các doanh nghiệp phương thức thanh toán L/C hay chuyển tiền bằng điện như thế nào để bảo vệ các doanh nghiệp trước các thanh toán bị vướng mắc về tài chính đối với các nước có nghiệp vụ cao hơn mình. Trong thực tế các doanh nghiệp chúng tôi rất khó hiểu hết các phương thức thanh toán này, trong khi đó ngân hàng lại nắm rất chắc”.

Trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, thường các ngân hàng chấp nhận số hàng trong giao dịch của doanh nghiệp làm tài sản đảm bảo để ứng trước số tiền thanh toán. Khi xảy ra rủi ro hoặc gian lận, khoản tiền đó của ngân hàng sẽ bị đọng lại. Bà Phạm Thị Hằng, Phó giám đốc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Nội, cho biết: “Chúng tôi đã tổng hợp các trường hợp rủi ro đã xảy ra trong những năm qua để lưu ý khách hàng cảnh giác trước những rủi ro có thể gặp phải. Trong hoạt động thanh toán quốc tế thì ngoài việc hỗ trợ khách hàng thanh toán xuất nhập khẩu thì chúng tôi cũng tư vấn cho khách hàng nhiều trong việc lựa chọn đối tác cũng như thị trường, lựa chọn hình thức thanh toán”.

Trong giao dịch quốc tế không tránh khỏi những rủi ro trên thương trường. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ đối tác về năng lực tài chính, tiểu sử về hoạt động sản xuất kinh doanh, lĩnh vực xuất nhập khẩu; khi ký hợp đồng phải chặt chẽ và tuân thủ các quy định của tiêu chuẩn quốc tế, để khi có xảy ra tranh chấp sẽ dễ giải quyết. Khi có dấu hiệu khả nghi: như chào hàng giá thấp so với mức giá chung của thế giới, địa chỉ của đối tác không rõ ràng, hợp đồng thiếu các cam kết cụ thể… cần phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng và các tổ chức liên quan để xác minh kịp thời, tránh được những rủi ro và gây thiệt hại cho doanh nghiệp./.(VOV)

Xuất Nhập Khẩu

Theo: http://www.mofa.gov.vn

VÀI NÉT CHUNG VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ (C/O)

Friday, 28. December 2007, 07:27:11

THU TUC CAP CO

Giấy chứng nhận xuất xứ và vai trò của nó

Xác định xuất xứ là một khái niệm cần thiết và quan trọng của hệ thống thương mại đa phương. Tại sao các quốc gia quan tâm đến việc xác định xuất xứ hàng hóa ?

Có bốn nguyên nhân cơ bản sau đây :

  • Ưu đãi thuế quan : xác định được xuất xứ của hàng hóa khiến có thể phân biệt đâu là hàng nhập khẩu được hưởng ưu đãi để áp dụng chế độ ưu đãi theo các thỏa thuận thương mại đã được ký kết giữa các quốc gia.
  • Áp dụng thuế chống phá giá và trợ giá. Trong các trường hợp khi hàng hóa của một nước được phá giá tại thị trường nước khác, việc xác định được xuất xứ khiến các hành động chống phá giá và việc áp dụng thuế chống trợ giá trở nên khả thi.
  • Thống kê thương mại và duy trì hệ thống hạn ngạch. Việc xác định xuất xứ khiến việc biên soạn các số liệu thống kê thương mại đối với một nước hoặc đối với một khu vực dễ dàng hơn. Trên cơ sở đó các cơ quan thương mại mới có thể duy trì hệ thống hạn ngạch.
  • Xúc tiến thương mại.

Hiện nay, trên thế giới đang có nhiều chế độ ưu đãi thuế quan của các quốc gia hoặc khối khu vực kinh tế. Để xác định xuất xứ hàng hóa nhằm áp dụng các chế độ này, một trong những cơ sở để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa là Giấy Chứng Nhận Xuất Xứ. Tùy vào từng quốc gia, khối kinh tế khu vực, hoặc chính sách thương mại cụ thể mà có nhiều loại Giấy Chứng Nhận Xuất Xứ khác nhau.

Các loại mẫu Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)

1. Giấy Chứng nhận xuất xứ Mẫu A:

Chỉ được cấp khi hàng hóa được xuất khẩu sang một trong những nước được ghi ở mặt sau Mẫu A và nước này đã cho Việt Nam được hưởng ưu đãi từ GSP. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) là chế độ ưu đãi miễn, giảm thuế nhập khẩu của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển nhằm giúp cho sản phẩm của các nước này tiêu thụ được trên thị trường quốc tế; và khi hàng hóa đáp ứng các tiêu chuẩn xuất xứ do nước này quy định.

2. Giấy chứng nhận xuất xứ C/O Mẫu B:

Loại C/O cấp cho hàng hóa xuất xứ tại Việt Nam xuất khẩu sang các nước khác trên thế giới trong các trường hợp sau:
Nước nhập khẩu không có chế độ ưu đãi GSP.
Nước nhập khẩu có chế độ GSP nhưng không cho Việt Nam hưởng
Nước nhập khẩu có chế độ ưu đãi GSP và cho Việt Nam hưởng ưu đãi từ chế độ này nhưng hàng hóa xuất khẩu không đáp ứng các tiêu chuẩn do chế độ này đặt ra.

3. Giấy Chứng nhận xuất xứ Mẫu hàng Dệt đi EU:

Chỉ cấp cho mặt hàng dệt may xuất xứ Việt Nam và khi hàng hóa này được xuất khẩu sang các nước thành viên của EU

4. Giấy Chứng nhận xuất xứ Mẫu Handlooms:

Chỉ cấp cho các hàng dệt may thủ công xuất sang các nước thành viên EU.

5. Giấy Chứng nhận xuất xứ Mẫu Handicrafts

Chỉ cấp cho mặt hàng thủ công xuất sang các nước thành viên EU, trừ các mặt hàng dệt may thủ công lấy Mẫu Handlooms.

6. Giấy Chứng nhận xuất xứ Mẫu O và Mẫu X:

Chỉ cấp cho mặt hàng Cà phê.
Mẫu O cấp cho hàng cà phê xuất khẩu sang các nước là thành viên của Tổ chức Cà phê Quốc tế .
Mẫu X cấp cho cà phê xuất khẩu sang các nước không phải là thành viên.

Hai loại Mẫu này luôn được cấp kèm với hoặc Mẫu A hoặc Mẫu B.

7. Giấy Chứng nhận xuất xứ Mẫu D : ( Do Bộ CÔNG THƯƠNG cấp)

Chỉ cấp cho hàng hóa xuất khẩu từ một nước thành viên của ASEAN sang một nước thành viên ASEAN sang một nước thành viên ASEAN khác.

8. Giấy Chứng nhận xuất xứ Mẫu AK : ( Do Bộ CÔNG THƯƠNG cấp)
cấp cho hàng hóa xuất khẩu từ một nước thành viên của ASEAN sang HÀN QUỐC

Quy chế cấp giấy chứng nhận xuất xứ

1. Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận xuất xứ:

Việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam được tiến hành trên cơ sở các quy định của Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) đối với Form A và các quy định của các Hiệp định quốc tế hoặc của Phòng Thương mại đối với các loại Form khác (Form hàng dệt, Form cà phê, Form B).

2. Thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ:

2.1 Qui định chung :
Mỗi lô hàng xuất khẩu chỉ được cấp một loại FORM C/O . Mỗi bộ C/O gồm một bản chính và các bản sao.
Form khai báo phải đúng loại Form và phù hợp với chứng từ kèm theo .
Mẫu C/O phải được đánh máy không được viết tay , tẩy xóa quá nhiều và nhiều màu mực
Nhà xuất khẩu yêu cầu cấp C/O phải chiûu hoàn toàn trách nhiệm về tính trung thực , chính xác trong việc khai , về nội dung bộ hồ sơ và cung cấp đầy đủ các chứng từ được nêu dưới đây .

2.2 Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ : :
Đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận xuất xứ (theo mẫu của Phòng Thương mại)
Các bản C/O đã được khai hoàn chỉnh , chính xác phù hợp với yêu cầu của sản phẩm và các qui định xuất xứ của nước nhập khẩu.
Bản sao Hóa đơn thương mại của sản phẩm xuất khẩu;
Bản sao giấy phép xuất khẩu ( E/L ) đối với hàng dệt may xuất khẩu theo các hiệp định mà chính phủ Việt Nam ký kết với các nước nhập khẩu như : Hiệp định hàng dệt may với EU, Thổ Nhỉ Kỳ , Na Uy .
Bản sao tờ khai hải quan đã được thanh khoản ( Trường hợp có lý do chính đáng nhà xuất khẩu có thể nộp sau ).

Trong trường hợp cần thiết phải làm rõ tính xuất xứ của hàng hóa, Phòng Thương mại có thể:
Yêu cầu các đơn vị cung cấp thêm các chứng từ liên quan đến lô hàng như: tờ khai hải quan nguyên phụ liệu nhập khẩu , hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng và hóa đơn tài chính mua nguyên phụ liệu trong nước và mẫu nguyên phụ liệu hoặc sản phẩm đính kèm , vận đơn đường biển ….
Tiến hành kiểm tra tại nơi sản xuất .
Kiểm tra lại các trường hợp đã được cấp C/O

2.3 Thời hạn cấp C/O:

Việc xem xét cấp giấy chứng nhận xuất xứ sẽ được tiến hành trong thời gian một ngày làm việc kể từ thời điểm đơn vị xin cấp nộp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ. Trong trường hợp cần thời gian để xác minh xuất xứ của hàng hóa, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không vượt quá ba ngày làm việc, kể từ ì thời điểm nhà xuất khẩu nộp bộ hồ sơ đầy đủ và hợp lệ .

Để tạo điều kiện cho các đơn vị ở xa rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí trong xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ , Chi nhánh sẽ nhận và chuyển trả lại cho đơn vi xin cấp C/O qua đường Bưu điện .

2.4 Cấp lại giáy chứng nhận xuất xứ :

Nhà xuất khẩu được cấp lại C/O trong các trường hợp sau :

Trong trường hợp giấy chứng nhận xuất xứ đã cấp bị thất lạc, mất, hoặc hư hỏng …Phòng Thương mại có thể sẽ cấp lại giấy chứng nhận xuất xứ đã cấp sau khi nhận được bộ hồ sơ, công văn yêu cầu cấp lại trong đó nêu rõ lý do và kèm theo bản sao C/O của lần cấp trước .

Trường hợp có thay đổi dữ kiện đã khai trong C/O theo yêu cầu của Nhà xuất khẩu , Phòng Thương mại sẽ cấp lại C/O sau khi nhận được bộ hồ sơ , công văn yêu cầu cấp lại có nêu rõ lý do đồng thời sẽ thu hồi lại bản chính C/O và các bản sao của lần cấp trước .

3. Giải quyết khiếu nại và xử lý vi phạm :

Trong trường hợp bị từ chối cấp C/O Nhà xuất khẩu có quyền khiếu nại lên Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam sẽ trả lời khiếu nại nêu trên . Quyết định của Chủ tịch Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam là quyết định cuối cùng .

Khi có khiếu nại của hải quan các nước về thẩm tra tính chính xác của C/O đã cấp trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được công văn yêu cầu giải trình của Chi nhánh Phòng Thương mại và CN VN tại Đà Nẵng ,nhà xuất khẩu phải giải trình và cung cấp bằng chứng bổ sung cho Chi nhánh Phòng Thương mại và CN Việt Nam tại Đà Nẵng .

Các doanh nghiệp yêu cầu cấp C/O phải phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức cấp C/O thực hiện việc thẩm tra nhanh chóng và chính xác .

Trong trường hợp phát hiện Doanh nghiệp yêu cầu cấp C/O khai sai, cung cấp bằng chứng không trung thực , không chính xác hoặc tự ý sữa đổi C/O sau khi đã được cấp , Chi nhánh Phòng Thương mại và CN VN tại Đà Nẵng sẽ thu hồi C/O đã cấp và phản ảnh với cơ quan chức năng để xữ lý .

Trong trường hợp Doanh nghiệp xin cấp C/O có thái độ thiếu hợp tác trong việc giải trình, Chi nhánh Phòng Thương mại và CN VN tại ĐN sẽ từ chối cấp C/O cho những lô hàng tiếp theo .

Mọi hành vi gian dối trong việc yêu cầu cấp và sử dụng C/O , tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả sẽ bị xữ lý theo qui định của pháp luật.

DOC THEM: CAP CO QUA MANG http://my.opera.com/CNQTDN/blog/huong-dan-dang-ky-va-cap-c-o-qua-mang

Xuất khẩu giá CIF, Nhập khẩu giá FOB

Friday, 28. December 2007, 02:04:01

Xuất Nhập Khẩu

Xuất khẩu giá CIF, Nhập khẩu giá FOB:Lời giải cho bài toán nhập siêu

Làm thế nào để giảm nhập siêu? Đó là một trong những câu hỏi luôn được đặt ra trong các kỳ họp Quốc hội, không chỉ dành cho Bộ Công Thương, mà còn dành cho tất cả các doanh nghiệp và những người làm công tác quản lý xuất nhập khẩu trong toàn quốc. Ông Hoàng Tuấn Việt – Tham tán Thương Mại Việt Nam tại Chi Lê đã cung cấp thông tin về vấn đề này.

Theo báo cáo của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) tại hội nghị Thương mại toàn quốc ngày 1/2/2007 tại Hà Nội, trong năm 2006, cả nước xuất khẩu 39,6 tỷ USD (trị giá FOB), nhập khẩu 44,4 tỷ USD (trị giá CIF). Cán cân thương mại nghiêng về nhập khẩu, ta nhập siêu 4,8 tỷ USD. Tuy nhiên, cần phải phân tích rõ về cơ cấu hàng nhập khẩu của nước ta như sau:

– Hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất để tái xuất khẩu và sản xuất trong nước, bao gồm các mặt hàng: gỗ nguyên liệu, bột giấy, bột cá, đồng nguyên liệu, bông và sợi các loại, phân bón, sắt thép, da nguyên liệu, máy móc thiết bị v.v…chiếm khoảng 70%. Các mặt hàng tiêu dùng khác chiếm khoảng 30% trên cơ cấu hàng nhập khẩu.

Như vậy, để giảm nhập siêu, chúng ta không thể giảm nhập các mặt hàng trong nhóm hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước, chỉ có thể giảm nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng. Theo lý thuyết “cung cầu”, ở đâu có cung, thì ở đó có cầu. Đơn cử một mặt hàng đồ chơi trẻ em “đèn ông sao”, xem lại bức ảnh chụp các em thiếu nhi năm 1945 cầm đèn ông sao làm bằng que gỗ có dán nilon xanh đỏ. Đến nay đã trên 60 năm, các nhà sản xuất trong nước vẫn không thay đổi mẫu mã, vẫ “giữ nguyên” như cha ông ta ngày xưa.

Trong khi đó các nhà sản xuất sản xuất đồ chơi của Trung quốc mỗi năm thay đổi mẫu mã một lần, hàng hoá rất phong phú, khiến các nhà nhập khẩu Việt nam không thể không nhập khẩu mặt hàng hấp dẫn này, phục vụ cho người tiêu dùng trong nước. Do đó, để giảm nhập siêu hàng tiêu dùng, cần phải có sự đầu tư của các nhà sản xuất trong nước, sao cho hàng hoá của ta có thể cạnh tranh được hàng hoá của nước ngoài.

Ngoài các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu do Bộ Công Thương đề ra như: Chủ động khai thác thị trường mới, mặt hàng mới, tăng số lượng hàng, nâng cao chất lượng để tăng giá trị gia tăng của hàng hoá xuất khẩu v.v…Thương vụ Việt nam tại Chi Lê xin đề xuất một giải pháp hoàn toàn mang tính nghiệp vụ: “Xuất khẩu giá CIF – Nhập khẩu giá FOB”, nếu thực hiện tốt có thể góp phần làm thay đổi cán cân giữa xuất và nhập.

Những quy tắc chính thức của Phòng Thương mại quốc tế giải thích các điều kiện thương mại năm 2000 (gọi tắt là INCOTERMS 2000) là gì ?
– Giao hàng theo điều kiện CIF (C – cost: Tiền hàng; I – insurance: Bảo hiểm; F – freight: Cước phí). Theo điều kiện này, người bán phải giao hàng qua lan can tầu tại cảng gửi hàng, phải mua bảo hiểm cho hàng hoá và thuê tầu (hoặc container) vận chuyển hàng hoá đến cảng dỡ hàng.
– Giao hàng theo điều kiện FOB (Free On Board – Giao hàng lên tầu”. Theo điều kiện này người bán chỉ cần giao hàng lên tầu tại cảng bốc hàng.
Qua các giao dịch trong thời gian vừa qua, phần lớn các doanh nghiệp trong nước chỉ thực hiện xuất khẩu theo điều kiện FOB, nhập khẩu theo điều kiện CIF. Có 2 nguyên nhân dẫn đến thói quen này của các doanh nghiệp ta:
– Thiếu thông tin về bảo hiểm và giá cước tầu hoặc container.
– Tâm lý cán bộ nghiệp vụ ngại chào hàng theo điều kiện CIF, vì phải tính toán tỷ lệ phí mua bả