Posted by: minhanhtran80 | 2009/09/22

CUNG SUY NGAM

CÓ NHỮNG TỘI ÁC KHÔNG AI CHỊU TRÁCH NHIỆM

NGUYỄN THẾ HOÀNG LINH

Diễn đạt lại một dòng suy nghĩ của Milan Kundera(1):
Người tạo ra một hành vi theo dư luận là ác sẽ bị pháp luật trừng phạt [giả sử pháp luật đã đọc Kafka và biết xấu hổ khi kết luận người đó, trong lúc hành động, nhận thức được nó]. Trong khi, người có cùng hành vi nếu được kết luận là ở tình trạng không nhận thức được trong lúc thực hiện sẽ được giảm án hoặc tha bổng.
Nhưng đằng sau tội ác được giảm nhẹ, tha bổng (chỉ vì không nhận thức được thì không còn khái niệm thiện ác? khác nào thiền sư?), phải có người chịu trách nhiệm chứ?

Đó là những người tạo ra tình trạng không nhận thức được cho người khác: Người gây tai nạn, người chuốc rượu, người bạo hành, người cưỡng hiếp, người bán thuốc phiện, người rải đinh để vá săm, người làm những con lươn quá khổ đẩy cao nguy cơ tai nạn (rồi lại ăn tiền phá chúng đi), người rút ruột công trình gây sụp đổ, người cho mình quyền giáo dục con cháu theo hướng phản giáo dục, người áp đặt những giáo trình học lộn xộn và quá tải, người thải hoá chất nguy hiểm vào khu dân cư, người dùng chất bảo quản độc hại, người biết mà vẫn bán thực phẩm mang dịch bệnh…

Những nhân vật này mới chỉ là nạn nhân lớn, là những bản sao của sự yếu kém và suy đồi trong chính quyền. Mỗi sự suy đồi ở cấp cao, nơi mang biểu tượng của uy tín và luôn tự lăng xê uy tín, tạo ra một hành lang suy đồi trong mọi sinh hoạt của đời sống. Điển hình là sự yếu kém trong năng lực cống hiến cho công việc, văn hóa hành chính, ý thức tôn trọng công cộng, thái độ tiếp nhận/phổ biến nghệ thuật, cung cách tiêu thụ sản phẩm…
Chưa cần nói đến sự bất thường của thiên nhiên (bị tổn thương), chúng ta thử nhìn lại đời sống của mình luôn bị đe dọa như thế nào bởi những hiểm họa nhỏ nhặt nhất, thường xuyên nhất do con người tạo ra vây quanh. Ví dụ như hằng ngày đi chợ và phải đối mặt với những sản phẩm không rõ xuất xứ, người bán thì bị lây lan cái vô trách nhiệm từ ổ dịch tham nhũng với sự tự mị dân: “Làm lớn như thế, danh tiếng như thế còn làm bậy; huống gì làm nhỏ, vô danh như mình”. Tham nhũng khiến người dân không có nhiều cơ hội nâng cao dân trí để thay vì ca thán và bắt chước cái mình ca thán, xây dựng cho mình ý thức coi trọng môi trường chung và sinh mạng của tha nhân, phối hợp với chính quyền nghiêm túc thực hiện các mục tiêu cộng sinh hợp lí.
Bởi vậy, người tạo nên nhiều tội ác nhất là người tham nhũng. Tội ác này được tính thế nào?
Dễ thấy nhất là lượng tội ác có thể đo bằng sinh mạng, sự cùng quẫn, sự mất mát cơ hội tiếp xúc với tri thức với thiên nhiên… của vô số người sau mỗi dấu phẩy được chuyển vị trí hay con số được thêm bớt (trong vô số công trình, dự án, kế hoạch như nâng cấp cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh giáo dục, xóa đói giảm nghèo, giảm và miễn phí y tế, phủ xanh môi trường, nâng cao thể chất người dân…). Tinh vi hơn, là những người tham nhũng quyền lực, họ cướp đi quyền của nhân dân là được cấp và rút quota quyền lực cho người lãnh đạo thông qua bầu cử minh bạch. Những người đó bán quota quyền lực, quota cơ hội làm việc cho những nhân vật không đủ năng lực, trách nhiệm và sẵn sàng tham nhũng để bù đắp tiền bỏ ra mua quota. Nhiên liệu cho cỗ máy tham nhũng là sự thoát tội của những người phạm tội thông qua mua chuộc người thừa hành pháp luật. Đó là những cơ sở cấu thành một xã hội cạnh tranh không lành mạnh và hỗn loạn, vì thế, phá hoại những tích luỹ dân chủ của mỗi quốc gia.
Những mục tiêu tươi tốt mà các chính quyền công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn bị cớm nắng và thui chột dưới cái bóng to lớn của tham nhũng. Người không tham nhũng, người thực sự có mong muốn vun đắp những mục tiêu dân chủ, nếu không đủ năng lực gánh trách nhiệm công việc, sẽ từ chức để được thay thế bởi người có năng lực hơn. Lí do ở lại, bất chấp danh dự, là còn giá trị sử dụng cho công cuộc tham nhũng, là ám ảnh bị trừng phạt không đủ lớn hơn hấp lực của tiền bẩn.
Nghiêm trị người tham nhũng có tội lớn làm gương, con người mới dần được đối xử công bằng trong những phán xét của pháp luật. Khi ấy, trong một đời sống vật chất đầy đủ hơn, tiền đầu tư nâng cao dân trí được sử dụng đúng mục đích hơn, sức khoẻ và quyền con người được bảo đảm hơn, sẽ dần không còn những đứa trẻ sinh ra chỉ bởi sự dồn nén và ngu dốt, không hề được chờ đón, khồng hề được hưởng những nguồn thiện tính từ tha nhân khi ra đời; trong sự bị ruồng bỏ đó, dễ dàng tích tụ những tình trạng mất trí, dễ dàng gây ra tội ác. Có thể thấy rõ cái ác đã được tại ngoại và nhởn nhơ sinh sôi thế nào trong cuộc sống khi nó không hề nhận được trừng phạt hoặc con người dồn hết sự trừng phạt lên những nạn nhân dây chuyền của cái ác nhất. (Nhân loại tự cười vào mũi mình nếu vẫn cứ dịu dàng với tham nhũng như dịu dàng với những tội phạm chiến tranh). Đó là nhân quả của phi lí. Dân chủ hoặc là sự hủy diệt.
Mức dân chủ của một xã hội được đo bằng mức hội tụ những điều kiện cho con người được sống lành mạnh và minh mẫn, không bị thúc đẩy làm hại người khác bởi những hận thù, thèm khát dồn nén trong vô thức mà không có những phương tiện giải toả hợp lí (như không gian riêng tư, sân chơi, thiên nhiên; cơ hội học tập, làm việc, phát biểu chính kiến, được chữa bệnh, được bình đẳng về giới tính, thưởng thức và làm nghệ thuật, dùng Internet, sinh hoạt tình dục an toàn…). Khi có những điều kiện giải thoát khỏi sự bóp nghẹt của xã hội (được không bị đẩy vào tình trạng mất trí), con người sẽ phải thực hiện triệt để nghĩa vụ của người dân chủ: trực tiếp trả giá cho hành vi phạm tội do nuông chiều mình, mình làm mình chịu:
“Bây giờ riêng đối diện tôi” (Bùi Giáng).
________________________________________
1.“Khi tự do tư tưởng, tự do của các từ, các thái độ, các lời nói đùa, các suy tư, các ý nghĩ nguy hiểm, các khiêu khích trí tuệ co lại dần, bị sự cảnh giác của toà án của chủ nghĩa bảo thủ chung canh giữ, thì tự do của các xung năng lớn dần lên. Người ta truyền giảng sự nghiêm khắc đối với tội lỗi về tư duy; người ta truyền giảng sự tha thứ đối với những tội ác phạm phải trong sự ngây ngất cảm tính”. (Những di chúc bị phản bội – Milan Kundera – Nguyên Ngọc dịch)

NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG SỐ HỌC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI LÀM LUẬT

NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Nguyên tắc đặt cơ sở cho việc thiết lập trật tự, an toàn xã hội và công bằng xã hội được các nhà hiền triết thời cổ gọi đó là nguyên tắc công bằng số học trong giao tiếp giữa người và người.
Nếu không có một nguyên tắc như thế, thì chẳng ai dám sống trong không gian chung, do không thể biết trước khi nào sẽ có ai đó lù lù xuất hiện và trút tai hoạ lên đầu mình mà mình cứ phải cam chịu; để tránh rủi ro và hiểm nguy tiềm tàng, mỗi người sẽ tạo cho mình một không gian riêng, biệt lập, ngăn cách với những người còn lại; xã hội sẽ không thể hình thành và phát triển.
Chi phối hành vi của tất cả thành viên xã hội một cách bình đẳng, nguyên tắc công bằng số học cũng mang ý nghĩa một lời cảnh báo đối với mỗi thành viên. Đó là lời nhắc nhở về sự cần thiết phải thận trọng, biết giữ chừng mực, đàng hoàng trong giao tiếp, ứng xử để tránh gây thiệt hại đáng tiếc cho thành viên khác.

Ý nghĩa này phải được đặc biệt nhấn mạnh đối với những thành viên được xã hội phân công đảm nhận các chức năng hoạch định chính sách, xây dựng chuẩn mực pháp lý. Đây là những người có quyền dùng sức mạnh của nhà chức trách để áp đặt khuôn mẫu ứng xử lên toàn xã hội; mỗi hành vi của họ, thực hiện trong khuôn khổ tác nghiệp chuyên môn, có ảnh hưởng sâu rộng đối với cuộc sống xã hội.

Trong xã hội được tổ chức tốt, mọi thành viên được bảo đảm thụ hưởng trong bình yên các lợi ích thuộc về mình. Bởi vậy, mỗi khi thành viên nào đó bỗng nhiên chịu một mất mát mà không phải do lỗi của chính mình, thì phải tiến hành điều tra làm rõ ngọn ngành. Nếu thiệt hại do rủi ro khách quan, nói nôm na là do ông trời, thì thôi đành chịu; nhưng nếu không phải vậy, thì cần đi tìm cho được người nào trên đời này đã gây ra thiệt hại, bắt họ nhận lãnh trách nhiệm bồi thường.

Thời gian vừa qua, có khá nhiều trường hợp chính sách, quy tắc pháp lý được đề ra chưa thấy đem lại lợi ích xã hội gì rõ ràng, nhưng đã gây thiệt hại nhận thấy được cho người này, người kia. Một trong những ví dụ tiêu biểu là các quy định của Bộ Giao thông Vận tải, yêu cầu các chủ ô tô vận tải phải chuyển hẳn phương tiện cho hợp tác xã làm chủ sở hữu mới được phép tiếp tục hành nghề.
Trong một câu chuyện khác xảy ra cuối năm trước, dịch tiêu chảy bùng phát, nhà chức trách nghi mắm tôm là thủ phạm gây dịch và ra lệnh cấm sản xuất, lưu hành đối với loại nước chấm này. Dịch qua đi, lệnh cấm được dở bỏ. Cuối cùng, mắm tôm được chính thức minh oan trên cơ sở các kết quả xét nghiệm do nhà chức trách y tế thực hiện; nhưng thiệt hại mà người sản xuất, mua bán phải gánh chịu do lệnh cấm trước đây thì chẳng người nào trong giới có thẩm quyền muốn nhắc tới.
Một cách tự nhiên, khi được hưởng quy chế siêu chủ thể và đứng trên các hệ thống chuẩn mực, con người sẽ có xu hướng phát triển tính cách độc đoán và tuỳ tiện trong quan hệ giao tiếp. Người làm luật mà không sợ chế tài sẽ có thể thoải mái đề ra quy tắc pháp lý theo ý mình; nếu có lỡ làm sai, thì nhiều lắm cũng chỉ cần xoá đi làm lại. Thái độ dửng dưng, có vẻ như muốn thách đố dư luận của một số quan chức ngành giao thông vận tải trước phản ứng quyết liệt của những người bị thiệt hại do quyết định tập thể hoá ô tô vận tải nói trên, là một minh chứng.
Hiện dự thảo Luật bồi thường nhà nước đang được xây dựng. Đây là luật có tác dụng đặt cơ sở pháp lý cho việc quy trách nhiệm vật chất của Nhà nước trong trường hợp viên chức nhà nước gây thiệt hại cho dân trong quá trình thực thi công vụ. Việc ban hành luật này sẽ phần nào đáp ứng được mong đợi của người dân về một bộ máy công quyền hữu hiệu với một đội ngũ công chức trong sạch, có năng lực, mẫn cán và có trách nhiệm. Đặc biệt, nó giúp khai thông bế tắc trong nhiều trường hợp người dân thường bị thiệt hại do hành vi sai trái hoặc thiếu trách nhiệm của cơ quan công quyền: quy hoạch treo; lề mề, chậm trễ trong việc xúc tiến thủ tục hành chính; bắt bớ, xử phạt bừa bãi, gây oan ức;…
Đáng tiếc là dù đã có nhiều ý kiến đóng góp, bản dự thảo Luật gần nhất vẫn chưa ghi nhận việc qui trách nhiệm của người ra quy tắc ứng xử pháp lý trái luật gây thiệt hại cho xã hội.

Gần đây, nhiều người chua chát nói đó là “hậu”…cấm xe lôi, xe ba gác. Cực chẳng đã người ta phải quay lại tận dụng xe trâu, xe bò, xe thồ để gồng gánh lúa từ ngoài đồng về, chở heo gà vịt cá rau ra chợ. Nhếch nhác và chậm chạp không sao chịu nổi.Còn tìm loại xe thay thế thì chuyện như đùa. Chứng tỏ, những tổ chức ra lệnh cấm không chịu trách nhiệm nghiêm túc để có quá trình chuẩn bị thỏa đáng cho người dân. Rồi như chuyện lạ, giữa lúc lệnh cấm còn “tranh tối tranh sáng” thì lập tức xe lôi của Trung Quốc đã lù lù có mặt đó đây. Hỏi ai cho phép nhập thì câu trả lời thật “lập vập”. Thế rồi nó cũng lần lượt được cấp phép lưu hành trót lọt. Mà nào có phải xe lôi Trung Quốc đẹp đẽ và an toàn lắm đâu, nếu không nói còn xấu hơn và chất lượng an toàn không hơn gì xe lôi, xe ba gác máy của ta. Nhiều người nói vui “Tự mình đá thủng lưới nhà một cách ngoạn mục” (!). Còn các loại xe tải nhỏ trong nước thì có chiếc nào dưới trăm triệu đâu, hỏi làm sao người chạy xe lôi, xe ba gác mua nổi. Vả lại, nếu có mua được thì nó cũng khá kềnh càng rất khó thay thế cho xe lôi, xe ba gác vốn quen bà con mình, bởi từ lâu thích hợp với đường ngang ngõ tắt và những con hẻm ngoằn ngoèo nhỏ hẹp. Thực trạng này không chỉ người chạy xe kêu trời mà cả những chủ bán vật liệu xây dựng cũng chẳng biết nói vào đâu cho thấu, dẫn tới việc bán buôn ế ẩm. Chẳng lẽ mua một bao xi măng, vài mươi viên gạch lại phải mướn chiếc xe tải cả tấn để chở? Bài toán thất thu do trở ngại, ách tắc trong vận chuyển hàng hóa chắc chắn không thể tính bằng triệu được.

HÓA GIẢI BA NGHỊCH LÝ

TS. NGUYỄN MINH PHONG – Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

Trong lịch sử đấu tranh với lạm phát ở Việt Nam từ năm 1976 đến nay, ngành ngân hàng đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, trong các nguyên nhân của động thái lạm phát tiêu cực diễn ra những năm 2007 và 2008 ở nước ta, không thể không nhận thấy những bất cập của các chính sách tiền tệ, cũng như của bản thân ngành ngân hàng.
Những bất cập này thể hiện ở việc điều hành tỷ giá, ở chính sách cung tiền và quản lý ngoại tệ, ở các hoạt động tín dụng và ở chính sách lãi suất… từ đó gây ra 3 nghịch lý sau đây:
Đồng tiền Việt Nam bị định giá quá cao

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan như: chủ trương và chỉ đạo chung, sự gia tăng về chi phí đầu vào, cũng như phần lớn các hoạt động ngoại thương và dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đều được thực hiện thông qua USD. Bản thân việc duy trì quá lâu tỷ giá gần như cố định giữa VND và USD đã khiến VND luôn bị định giá quá cao, làm cho hàng Việt Nam trở nên đắt đỏ trên thị trường thế giới và nhập siêu tăng vọt trong 2 năm 2007 và 2008. Hơn nữa, sự bất cập trong điều hành tỷ giá của NHNN còn thể hiện ở chỗ, một mặt, NHNN chỉ đạo bắt buộc các NHTM chỉ được mua vào USD đang dồi dào với giá sàn đắt đỏ hơn nhiều giá trên thị trường để duy trì tỷ giá VND danh nghĩa. Mặt khác, NHNN lại không chịu mua lại số USD này theo giá sàn trên khiến các NHTM “chê”” USD, xuất hiện thực tế đầy nghịch lý là lạm phát cao, trong khi các nhà đầu tư nước ngoài khan hiếm VND và thừa USD. Hệ quả là cuộc săn lùng VND của các ngân hàng và nhà đầu tư nước ngoài trở nên nóng bỏng hơn, khiến có những sự “bán tháo USD và nghẽn mạch lưu thông tiền tệ, gây tổn hại chung cho nền kinh tế đất nước.
Do đó, NHNN cần duy trì một tỷ giá “mềm” hơn, không “neo” quá “cứng” vào một đồng ngoại tệ, cụ thể là hạ giá VND sát, thậm chí thấp hơn thực tế để hỗ trợ xuất khẩu. Giải quyết vấn đề này, kinh nghiệm của Trung Quốc là rất đáng tham khảo.
Bên cạnh đó, hoạt động mua ngoại tệ cần phải được tiến hành bình thường, không phải bằng tiền phát hành mà bằng tiền huy động, ví dụ qua phát hành công trái…
Vi phạm chính sách lãi suất tiền gửi thực dương
Một trong những nguyên tắc cơ bản và phổ biến của “đơn thuốc” chống lạm phát tiền tệ trong kinh tế thị trường là thực hiện lãi suất thực dương – tức lãi suất tiền cho vay cao hơn lãi suất tiền huy động và lãi suất huy động phải cao hơn mức lạm phát. Tuy nhiên, dù buộc phải vào cuộc chống lạm phát, nhưng bất chấp chỉ đạo của Chính phủ là phải bảo đảm lãi suất thực dương, trong cả 2 năm 2007 và 2008, các NH Việt Nam mới thực hiện được ½ đơn thuốc này, tức mới bảo đảm lãi suất tiền cho vay cao hơn lãi suất huy động, còn lãi suất huy động lại thấp hơn nhiều mức lạm phát.
Thậm chí, lo ngại sự đảo chiều của các dòng tiền gửi, nhất là việc một số NHTMNN bị các NH khác cạnh tranh hút bớt khách gửi tiền, NHNN còn yêu cầu các NHTM phải triệt để áp dụng trần lãi suất huy động 12%, rồi phải hạ tiếp xuống 11%…, trong khi mức lạm phát cùng thời điểm là 16 -18%, hơn nữa lại cho phép thả nổi trần lãi suất cho vay. Kết quả, dư lượng tiền thừa trong lưu thông vẫn quá nhiều trong khi nhiều ngân hàng không huy động đủ tiền mặt để bảo đảm tính thanh khoản, cho vay cần thiết.
Những tồn tại này đến nay chỉ có thể được cứu vãn bởi quyết tâm của Chính phủ trong việc nâng mạnh lãi suất thực dương để hút tiền vào, tất nhiên chỉ trong một thời điểm nhất định, và dùng chính tiền đó để mua USD.
Hoạt động tín dụng còn chạy theo bề rộng
Làn sóng thành lập các ngân hàng mới, đua nhau tăng vốn điều lệ và phát hành các loại chứng khoán mới, sự gia tăng các hoạt động cho vay chéo, đầu tư đa ngành mang nặng tính đầu cơ… đã tạo ra những xung lực cực mạnh làm gia tăng tổng phương tiện lưu thông, gây ra, dung dưỡng và thúc đẩy vòng xoáy tăng giá – lạm phát trong thời gian gần đây ở nước ta. Hơn nữa, trong khi thoải mái “mua rẻ – bán đắt” các nguồn vốn đang dồi dào của xã hội, các ngân hàng đã “ngậm miệng ăn tiền” trong năm 2007, hoặc nhân danh chống lạm phát trong năm 2008 thanh minh việc khống chế trần huy động vay tín dụng thấp để cho vay thấp, giúp giảm giá thành và kiềm chế tăng giá chung, trong khi luôn cho vay theo lãi suất cao không bị hạn chế. Rốt cuộc, họ đều thu được các khoản lợi nhuận kếch xù từ chênh lệch lãi suất vay và cho vay, từ chênh lệch giá ảo với giá khởi điểm của các chứng khoán ngân hàng và cả từ nguồn thu phí dịch vụ kinh doanh chứng khoán các loại…
Thực tế này đã đến lúc phải điều chỉnh theo hướng hạn chế thấp nhất hoạt động cho vay bề rộng mang tính đầu cơ như cho vay bất động sản, chứng khoán, đầu tư dàn trải… Đồng thời, cần hạn chế sự “bắt tay” giữa 3 giới: các DN lớn, ngân hàng, quan chức, để tránh việc nguồn vốn bị đọng ở các dự án đầu tư không hiệu quả và tránh những hiện tượng lũng đoạn nào đó cho nền kinh tế.
Như vậy, đã đến lúc cần có cái nhìn toàn cục, tỉnh táo và mới hơn về hoạt động NH trong nền kinh tế thị trường thời hội nhập, thống nhất về nhận thức, hoàn thiện hơn về chính sách và bổ sung các công cụ quản lý cần thiết và hiệu quả, nhằm chủ động phát huy các vai trò tích cực, phòng ngừa và khắc phục kịp thời các bất cập và hệ quả trái chiều của hoạt động ngân hàng, góp phần kiềm chế vững chắc lạm phát nói riêng và phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế – xã hội của đất nước nói chung.

NĂM CHỦ TRƯƠNG ĐỂ CẢI CÁCH TƯ PHÁP THÀNH CÔNG

PHẠM DUY NGHĨA

Mục đích, các tiêu chí cải cách hệ thống tòa án theo Nghị quyết 49 đã khá rõ ràng, theo thiển ý của riêng tôi, vấn đề hiện nay chủ yếu là ý chí chính trị của những người giữ quyền điều hành đất nước.
Ở địa phương, chánh án các tòa án thường có một vị trí xã hội khá khiêm tốn so với giám đốc các sở, ban ngành cùng cấp. Ở trung ương, tòa án chưa thực sự có điều kiện để trở thành một cơ quan quyền lực, góp phần xác lập chính sách một cách đáng kể ở nước ta.
Nếu tòa án tiếp tục thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh-hàng nghìn vụ đình công bất hợp pháp từ Nam ra Bắc, đòi nợ thuế, xiết nợ kiểu xã hội đen là một minh chứng cho nhận định này. Thêm nữa, khi người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tranh chấp sẽ được đưa ra ngoài lãnh thổ nước ta để giải quyết, các trọng tài Singapore hay Hồng Kông sẽ thay thế tòa án Việt Nam trong việc xác lập trật tự kinh doanh ngay ở chính nước ta. Ngoài ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý trước người dân.

Chúng ta cần một nhà nước thượng tôn pháp luật. Nhà nước ấy cần cương tỏa quyền lực của hành chính, đặt mọi đảng phái, công an, quân đội, Chính phủ, ngân hàng quốc doanh và tất cả mọi thiết chế quyền lực khác dưới sự giám sát của pháp luật, của tòa án.

Lựa chọn thành công theo gương những người hàng xóm Đông Á, chúng ta cần một nhà nước thượng tôn pháp luật. Nhà nước ấy cần cương tỏa quyền lực của hành chính, đặt Chính phủ, công an, quân đội, ngân hàng quốc doanh và tất cả mọi thiết chế quyền lực khác dưới sự giám sát của pháp luật, của tòa án. Khái niệm ấy người ta gọi là giám sát tư pháp đối với cơ quan công quyền.
Từ chối cải cách theo chiều sâu, lãng mạn phát triển theo “đặc thù riêng của đất nước chúng ta”- cái đặc thù ấy là những nhóm lợi ích ngày càng lớn mạnh đã chia sẻ ngày càng công khai các nguồn tài nguyên quốc gia-từ ruộng đất của nông dân tới các nguồn khoáng sản, bờ biển, rừng núi và sóng truyền thông. Người có tiền thường có năng lực chi phối chính sách kinh tế rất mạnh, chúng ta mau chóng sẽ có những chính thể sốt sắng vì quyền lợi của người giàu và có thế lực. Những người đang nắm chính quyền ở nước ta không tôn thờ một chủ nghĩa tư bản mang tính cướp bóc ấy.
Vậy thì, dù gọi là tôn dân-nhà nước của dân, hay tôn chủ nghĩa xã hội, tăng quyền cho các tòa án giám sát chính quyền sẽ là một hướng đi trúng. Muốn cho tòa án mạnh, mạnh trong tương quan với các cơ quan của Đảng, của chính quyền, của các tập đoàn kinh tế đầy sức mạnh, thì phải làm cho các cơ quan tư pháp độc lập, không khuất phục trước các thế mạnh cản trở công lý.
Năm chủ trương cụ thể
Muốn cho tòa án mạnh, mạnh trong tương quan với các cơ quan của Đảng, của chính quyền, của các tập đoàn kinh tế đầy sức mạnh, thì phải làm cho các cơ quan tư pháp độc lập, không khuất phục trước các thế mạnh cản trở công lý.
Muốn cho tòa án mạnh, thì các thẩm phán phải độc lập. Vậy nên, cải cách tư pháp, nếu muốn thực sự thành công và giúp dân chúng kiểm soát Chính phủ, phải hướng tới các chủ trương cụ thể như sau:
– Thứ nhất, các thẩm phán phải được bổ nhiệm suốt đời, hoặc chí ít theo những nhiệm kỳ dài, ví dụ 12 năm, vênh với nhiệm kỳ của cơ quan hành pháp. Sau khi được bổ nhiệm, thẩm phán không bị thay đổi nơi trị nhiệm. Làm như vậy, các thẩm phán sẽ bớt sợ hãi hơn trước các cuộc tái bầu cử hay bổ nhiệm (cứ 5 năm một lần như hiện nay).
– Thứ hai, quỹ lương, ngân sách hoạt động của các tòa phải không lệ thuộc vào ngân sách địa phương. Ngạch tư pháp phải hạch toán, phân bổ ngân sách riêng từ trung ương, lãnh đạo các địa phương tuyệt nhiên không nên có ảnh hưởng gì tới chi tiêu của các tòa án. Thêm nữa, lương của thẩm phán cũng phải đủ nuôi họ và gia đình một cách tương đối đàng hoàng (theo thời giá hiện nay lương cho thẩm phán tòa phúc thẩm khoảng 10 triệu đồng/tháng là mức khiêm tốn cần trông đợi).
– Thứ ba, đã đến lúc phải từng bước thay mô hình “các con búp-bê ma-trutsch-ka” hiện nay, theo đó mỗi địa phương là một nhà nước nho nhỏ với đủ các cơ quan cảnh sát, quân đội, tòa án. Thành lập các tòa sơ thẩm theo khu vực, không tuân theo địa giới hành chính; thành lập các tòa phúc thẩm khu vực; những điều này kết hợp với sự tự do về ngân sách, sẽ làm cho tòa án ngày càng độc lập với chính quyền các tỉnh.
Đây là một đường lối đã được thông qua tại Nghị quyết số 49 về cải cách tư pháp của Bộ Chính trị, song sức cản chủ yếu nằm ở quan chức địa phương. Những quan tòa soi mói và không dễ khuất phục chưa chắc đã là điều mà lãnh đạo các tỉnh mong muốn hiện nay.
– Thứ tư, thẩm phán không nên chỉ là công nhân xử án, chỉ quen các thao tác tuân theo những hướng dẫn đã có sẵn. Bảo đảm cho họ mọi sự độc lập và tự do khi tuyên xử, và phải có những sự chuẩn bị cho cả xã hội về một vị thế mới của người thẩm phán. Họ nên là những nhân cách được dân chúng tin tưởng và kính mến trước hết về mặt đạo đức, về cảm nhận công lý, về bảo vệ niềm tin. Muốn vậy, nên nghiên cứu rất kỹ cách người Nhật, người Hàn đang cải cách nền tư pháp hiện nay. Theo thiển ý của tôi, không nên thu nạp thẩm phán từ các nhân viên thư ký tòa như hiện nay, mà nên bổ nhiệm họ trong số những luật sư đã hành nghề có uy tín nhiều năm.

Việc từng bước giảm bớt hội đồng nhân dân cấp huyện, tách các tòa án huyện ra khỏi cơ cấu hành chính để thành lập các tòa sơ cấp theo khu vực là điều có thể làm được trong vòng vài năm tới. Nếu làm được như vậy, chúng ta đang khám phá ra quá khứ, bởi một hệ thống tòa án từ sơ cấp- tòa phúc thẩm khu vực, tòa phá án tách rời với địa giới các tỉnh đã từng tồn tại ở Miền Bắc Việt Nam cho tới những năm 1953… chúng chỉ bị thay thế bởi các tòa án nhân dân sau Chiến dịch biên giới Việt Trung. Đọc Hiến pháp năm 1946 người ta vẫn còn thấy nguyên hình hài của chúng.

– Thứ năm,

nền tư pháp chỉ có thể được cải cách, nếu bắt đầu từ nền đào tạo luật học. Cũng như y khoa chữa bệnh cho người, người học luật nên có kinh nghiệm sống, chí ít là nên đã có một bằng cử nhân. Không có kinh nghiệm sống đa dạng thì làm sao phán xử được về sự đời. Các luật sư phải là người đã có một bằng đại học, học thêm 3-4 năm nữa để hành nghề luật. Vì thế luật học không nên đào tạo ở bậc đại học, mà chỉ nên đào tạo ở bậc sau đại học- hiểu theo nghĩa đã có một bằng đại học trước đó. Thêm nữa, dạy luật không chỉ là lý thuyết, mà nên dạy nghề. Người học phải trải qua các tín chỉ được thực hiện ở các văn phòng luật sư, các cơ quan nhà nước hay tòa án. Đây là một vấn đề rất mấu chốt, vì tòa án sẽ tốt lên đáng kể nếu các luật sư được tranh tụng công khai ngày càng giỏi và dám thách thức quan tòa.

10 ĐIỂM ĐỔI MỚI VỀ TƯ DUY KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

NHÂN DÂN – Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) vừa ra Nghị quyết về “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước.
Hội nghị nhận định: “Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp trước đây sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Nhìn lại tư duy kinh tế của ta trước đổi mới, liên hệ với những gì Ðại hội VI (1986) đã phê phán hoặc khẳng định, rồi những gì ngày nay đạt được, nhất là từ hai Ðại hội IX và X đến nay, chúng ta sẽ thấy những đổi mới rất quan trọng. Có thể nêu tập trung vào 10 điểm sau đây:
Một là, từ quan niệm về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần xã hội chủ nghĩa (kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể) đã đi đến quan niệm về một nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế này, ngoài hai thành phần nói trên, còn có: kinh tế tư nhân (bao gồm cả cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế ấy đều là bộ phận của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại và phát triển lâu dài, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Thay đổi quan trọng nhất là kinh tế tư nhân chẳng những không bị kỳ thị, mà còn được thừa nhận là có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế.

Hai là, từ quan niệm cho rằng, để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phải nhanh chóng hoàn thành cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể, tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đi đến quan niệm cho rằng việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất. Tiêu chuẩn căn bản đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất mới không phải ở chỗ cải tạo nhanh hay không các thành phần kinh tế tư nhân nói trên mà là ở chỗ làm sao giải phóng và phát huy được mọi năng lực sản xuất, đẩy nhanh phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Ba là, từ quan niệm chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) đã đi đến quan niệm về một nền kinh tế nhiều sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân). Trong đó, không chỉ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được thừa nhận, mà ngay chế độ công hữu cũng được hiểu không phải về tất cả các tư liệu sản xuất mà chỉ là về các tư liệu sản xuất chủ yếu để làm chỗ dựa cho nền kinh tế quốc dân.
Bốn là, từ quan niệm kinh tế quốc doanh (các doanh nghiệp nhà nước) là chủ đạo đã đi đến quan niệm kinh tế nhà nước (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và những bộ phận khác như dự trữ quốc gia, ngân sách nhà nước,…) là chủ đạo. Chủ đạo không có nghĩa là các doanh nghiệp nhà nước phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, độc quyền chi phối thị trường, mà là ở chỗ kinh tế nhà nước phải giữ vững vị trí then chốt trong nền kinh tế; phải mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho xã hội mới. Về hình thức sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu. Các doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty nhà nước, đều cần đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả, trọng tâm là cổ phần hóa.
Năm là, từ quan niệm hợp tác xã thuần túy là kinh tế tập thể, cho rằng tập thể hóa tư liệu sản xuất càng mạnh, tỷ trọng sở hữu tập thể càng cao thì hợp tác xã càng gần chủ nghĩa xã hội, do đó mà gò ép những người lao động cá thể vào hợp tác xã, đã đi đến quan niệm hợp tác xã là một tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở người lao động tự nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ, với quy mô và mức độ tập thể hóa tư liệu sản xuất khác nhau. Hình thức tổ chức các hợp tác xã trong nông nghiệp và trong các ngành hoạt động phi nông nghiệp cũng khác nhau. Ngay trong nông nghiệp, giữa các hợp tác xã nghề trồng trọt, chăn nuôi, nghề cá, nghề muối, nghề rừng cũng khác nhau. Các hợp tác xã nông nghiệp không quản lý toàn bộ các khâu trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà phát huy vai trò tự chủ của hộ xã viên và thực hiện chức năng chủ yếu làm dịch vụ, hỗ trợ, hướng dẫn xã viên.
Sáu là, từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa bỏ nhanh các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu, đã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, thì phải trải qua một quá trình xây dựng, củng cố và phát triển hai thành phần đó với những bước đi thích hợp.
Bảy là, từ quan niệm Nhà nước phải chỉ huy nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung với những chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến quan niệm phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc Nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp. Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn hình thức hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh. Quan niệm về hàng hóa và thị trường cũng được mở rộng, bao gồm cả tư liệu sản xuất, vốn, sức lao động, bất động sản, công nghệ, các dịch vụ như thông tin, tư vấn, tiếp thị, pháp lý, tài chính, ngân hàng, kiểm soát, bảo hiểm,…
Tám là, từ quan niệm chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân phối theo lao động, đã đi đến quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Công bằng xã hội không phải thể hiện ở chủ nghĩa bình quân trong phân phối, mà là ở sự phân phối hợp lý tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Không ngăn cấm làm giàu mà trái lại, khuyến khích mọi người làm giàu một cách hợp pháp, đồng thời thực hiện xóa đói, giảm nghèo, hạn chế phân cực giàu – nghèo quá đáng.
Chín là, từ quan niệm thị trường xã hội chủ nghĩa đối lập với thị trường tư bản chủ nghĩa, hạn chế quan hệ kinh tế quốc tế, đã đi đến quan niệm về một nền kinh tế mở, thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu (gia nhập WTO là đỉnh cao nhất gần đây); kết hợp nội lực với ngoại lực, lấy phát huy nội lực là chính, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực để tạo nên sức mạnh tổng hợp; thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế nhưng vẫn giữ được tính độc lập tự chủ, giữ được độc lập, chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Mười là, từ chỗ quan niệm đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế tư bản chủ nghĩa đã đi đến quan niệm coi sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là thành quả phát triển qua nhiều phương thức sản xuất mặc dù đến chủ nghĩa tư bản thì kinh tế thị trường phát triển đến mức điển hình. Sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường tồn tại một cách khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng thành công. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta khác nhau ở bản chất và mục đích; một bên là để phát triển chủ nghĩa tư bản, một bên là để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.
Tóm lại, với mười điểm đổi mới tư duy kinh tế trên đây, chúng ta đã tự quan niệm về một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa kiểu kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp đi đến quan niệm về một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà từ Ðại hội IX của Ðảng, đã nói gọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ðại hội IX của Ðảng khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ. Ðại hội X của Ðảng đề ra nhiệm vụ “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Bốn nội dung cơ bản của nhiệm vụ này là:
1 – Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.
2 – Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước.
3 – Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh.
4 – Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh.
Hội nghị T.Ư 6 cụ thể hóa hơn nữa Nghị quyết của Ðại hội X, đánh dấu một bước phát triển mới của Ðảng ta trong đổi mới tư duy và lãnh đạo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

NHÂN CHUYỆN SỬA “LUẬT LÀM LUẬT”

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Một đạo luật về làm luật với gần 100 điều đang được lấy ý kiến dân chúng trước khi trình Quốc hội thông qua [1]. Trừ một vài cuộc trì hoãn, ví dụ như dự luật về hội, về trưng cầu ý dân, như mọi thuở, đã đưa vào chương trình làm luật thường dự luật nào mà chẳng được thông qua. Điều ấy chắc cũng đúng với dự thảo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, dù rằng nội dung của nó, với nhiều điểm sáng đáng kể, vẫn ẩn chứa vài điều có thể cần được bàn thêm. Ý kiến ngắn dưới đây trao đổi về một số điểm có thể cần được quan tâm khi xem xét dự luật này.
Sức người có hạn: Nên tập trung vào thẩm quyền ban hành văn bản
Có vẻ như những người soạn muốn đưa tất cả các công đoạn của quy trình làm luật vào dự thảo này, từ công đoạn sáng quyền lập pháp, công đoạn soạn thảo của nhân viên hành chính, sự tranh luận và lựa chọn chính sách của Chính phủ, sự tham gia của người dân, cho tới các công đoạn của Quốc hội, và thâm chí cả công đoạn giải thích pháp luật sau khi văn bản luật được ban hành.
Trong thời buổi bây giờ, điều này không mấy thú vị, bởi mấy lẽ: thứ nhất sáng quyền lập pháp liên quan đến phản ứng của nền dân chủ đại diện và cơ quan chấp pháp, thường sức ép của dân chúng hối thúc Nhà nước làm luật để quản lý. Thứ tự ưu tiên trong làm luật thường là những tranh luận về ưu tiên chính sách mà một Chính phủ theo đuổi-một sự lựa chọn thường chịu sức ép chính trị nhiều hơn. Thứ hai, công đoạn soạn luật của Chính phủ và công đoạn thẩm tra, phản biện của cơ quan dân cử diễn ra với các nguyên lý khá khác nhau. Tự thân “luật thủ tục nghị viện” đã khá phiền toái, khó có thể đơn giản chúng bằng một chương trong dự luật này. Thứ ba, tranh luận và sự tham gia của người dân cần tới những thiết chế của lập hội, minh bạch thông tin, điều trần, vận động hành lang. Nếu chỉ ghi nhận thoáng qua trong dự luật, các nguyên tắc này có ý nghĩa nâng cao nhận thức, song khó trở thành quy phạm hữu dụng. Không tách biệt được các công đoạn làm luật sẽ khó đạt được giá trị gia tăng, nguy cơ “nồi cơm được nấu lại nhiều lần” vẫn hiện hữu.

Thời này các đạo luật thường có nội dung hẹp, sức đến đâu làm tới đó, ví dụ rất cần thiết ban hành quy chế làm việc của các ủy ban, quy chế điều trần, hướng dẫn đánh giá tác động quy phạm. Phần nào chưa thật rõ nên tạm gác lại, ví dụ vấn đề giải thích pháp luật theo tôi chưa thật thuyết phục. Phần nào cảm thấy chưa yên ổn về cả nhận thức lẫn kinh nghiệm thì tốt nhất đừng quá nhấn mạnh và ghi nhận thêm, mà nên duy trì hiện trạng. Có vẻ như tuy duy thực dụng này trong làm luật đã trở nên rất phổ biến ở nhiều nước, ta cũng nên rất thực dụng.
Nhìn sang Tàu, nước này khá dè dặt khi ban hành Luật làm luật ngày 15/03/2000, sau gần một thập kỷ thảo luận. Phần lớn trong số 93 điều khoản của đạo luật này liên quan tới việc thông qua các đạo luật tại Quốc hội và Ủy ban thường vụ (Điều 12-41), việc phân quyền lập quy cho hành pháp và cho tự quản địa phương. Quyền giải thích pháp luật được quy định giống pháp luật VN hiện hành. Các quy định về quyền lập quy của hành pháp khá sơ sài, về cơ bản là liệt kê thẩm quyền và loại văn bản (Điều 56-62, 71-77) [3]. Về tổng thể, đạo luật của Tàu là luật về thẩm quyền ban hành văn bản, hơn là một đạo luật ôm đồm tất cả quy trình từ soạn thảo, thông qua, tới chỉnh sửa và giải thích luật.
Để minh chứng cho ý này có thể so sánh Điều 11.2 dự thảo luật ta với Điều 8 của luật Tàu mới thấy rõ dù được thông qua cách đây đã 8 năm, tư duy của người làm luật Tàu có vẻ vẫn rõ hơn ở ta. Người Tàu quy định những vấn đề sau đây dứt khoát phải được thông qua dưới dạng Luật của Quốc hội và liệt kê chúng ra, ví dụ bao gồm cả những vấn đề dân sự, quốc hữu hóa tài sản tư nhân.. Đây chính là ranh giới giữa lập pháp và lập pháp ủy quyền, không thể bằng một nghị định 95 nào đó mà bắt dân chúng phải có thêm sổ hồng cho mảnh đất của mình. Việc định giá đất, việc định giá sản nghiệp khi cổ phần hóa, việc chọn nhà đầu tư cho các dự án sử dụng đất đai, việc vay vốn nước ngoài và chi dùng của công… các việc thiết yếu ấy nên được quy định bởi các đạo luật. Làm được như vậy thì nguy cơ tùy tiện của hành pháp có thể được ngăn chặn.
Đừng thấy cứ vướng là chữa luật: Lỗi không ở văn bản
Ở nước ta không hiếm những đạo luật chẳng hề tồi, song do lý do nào đó bị áp dụng méo mó trong cuộc sống, chúng đã bị sửa nhiều lần để trở thành què quặt hẳn. Muốn tránh điều này, chắc phải đoán trúng căn bệnh, những lý do gì dẫn đến cần phải sửa luật, lý do đó có phải do nguyên căn quy phạm dở hay do những điều người ta gọi là lỗi từ hệ thống. Bệnh ở đâu thì chữa ở đó, chứ đừng vội chữa ở luật.
Chắc rằng trước khi bắt tay sửa “Luật làm luật”, ban biên tập đã khám bệnh cho đạo luật này. Khuyết tật của hệ thống văn bản pháp luật ở nước ta đã được nhiều lần chỉ đích danh: quá nhiều đầu văn bản, quy chế hành chính đôi khi hướng dẫn sai tinh thần luật, làm khó cho người dân (và tiện xoay sở cho quan), luật làm ra chủ yếu phục vụ mục đích quản lý nhà nước, tố quyền của người dân mờ nhạt. Chung quy lại, luật ở ta chịu ảnh hưởng chi phối lấn át của bộ máy hành pháp, bộ máy này có khả năng tự làm luật lớn, năng lực giám sát và đối trọng của cơ quan dân cử thấp (ít khi Quốc hội có năng lực bác bỏ dự án luật của Chính phủ). Vài năm gần đây quyền lập quy của các địa phương cũng tăng nhanh, trong khi các thiết chế hiện hữu phản ứng chậm chạp với việc cân bằng quyền lực giữa TW và địa phương.
Bệnh ấy chỉ có thể chữa được về lâu dài nếu Quốc hội và các cơ quan dân cử địa phương đủ mạnh hơn để thực hiện chức phận giám sát và kìm chế quyền lực của mình; nếu người dân mạnh dạn sử dụng tố quyền và tòa án đủ độc lập để kiểm định lại văn bản pháp quy, khi chúng vi hiến, vi pháp hoặc can thiệp quá mức cần thiết vào các quyền tự do của người dân. Các thay đổi cần thiết về thể chế này vượt quá xa tầm cỡ của một đạo luật về xây dựng văn bản. (Thêm một lý do để nghi vấn liệu “Luật làm luật” mới có đủ sức làm cho hệ thống pháp luật của nước ta minh bạch và có hiệu lực hơn chăng?).
Nên tranh luận về chính sách hơn là làm văn tập thể
Với tư cách là người nghiên cứu, khi đọc dự luật, tôi cho rằng dự luật về cơ bản ghi nhận những quan điểm và cách làm cũ, tuy đã có nhiều cải biên. Tôi có thể điểm suốt một vài luận điểm dưới đây:
Quy phạm pháp luật: Trong học thuật, người ta ghi nhận 5 loại nguồn chứa quy phạm pháp luật có thể bao gồm: (i) văn bản pháp luật – law, (ii) quy chế hành chính chứa quy phạm – administrative regulation, (iii) án lệ – chí ít do Tòa án tối cao, hoặc rộng hơn do các tòa phúc thẩm khu vực ban hành, (iv) học lý – ví dụ các thuyết về pháp nhân, vô hiệu, bất khả kháng.., và (v) lẽ công bằng. Ở ta thường hiểu luật chỉ có ở văn bản, vì lẽ ấy tên dự luật và cách liệt kê văn bản của dự luật dường như bao gồm tất cả các nguồn văn bản có chứa quy phạm pháp luật. Có thể nên suy tính để dồn sức cho luật về thẩm quyền ban hành văn bản, luật về quy trình xây dựng pháp quy, hơn là một đạo luật định nghĩa bao quát về các nguồn luật.
Điều 1.2 – Pháp chế: dù vi hiến, vi pháp hoặc được soạn sai quy trình, văn bản khi đã được ban hành vẫn có hiệu lực. Đáng ghi nhận hơn phải là quyền của người dân yêu cầu tòa án (bắt đầu bằng tòa hành chính trong lúc chờ cho đến khi có tòa bảo hiến) tuyên bố hủy bỏ văn bản. Chỉ khi bị hủy, văn bản mới mất hiệu lực.
Điều 11- Lập hiến: Điều này nhắc lại thẩm quyền không mấy rành mạch của Điều 83, 84 Hiến pháp, theo đó Quốc hội nước ta đồng thời là cơ quan lập hiến và sửa đổi hiến pháp. Có nhiều lý do để tách bạch quốc hội lập hiến và nghị viện cũng như hạn chế sửa đổi hiến pháp theo tinh thần của Điều 70 Hiến pháp 1946.
Điều 2- Tự ý ủy quyền: Dân bầu ra nghị sĩ, vì sao nghị sĩ lại ủy quyền đáng kể cho UBTV Quốc hội, trong đó có cả quyền lập quy. Trong cải cách cơ quan dân cử nên tăng quyền cho các ủy ban và thay đổi cách nghĩ về UBTV Quốc hội. Cơ quan này, nếu tiếp tục tồn tại, chỉ có tính chất điều phối công việc của Quốc hội, không nên có quyền ban hành pháp lệnh, càng không nên có quyền giải thích pháp luật.
Điều 22.5- Thói quen hành chính: Điều 22.5và những điều liên quan cho thấy cách thiết kế các Ủy ban của Quốc hội chẳng khác cơ quan hành chính. Chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội thường chỉ có quyền chủ tọa, điều hành các cuộc họp, sắp xếp thứ tự ưu tiên của các phiên điều trần, mà không thể kết luận các cuộc thẩm tra làm luật và bằng kết luận của mình bỏ phiếu thay tất cả các nghị sĩ khác. Người ta bảo mỗi đại biểu Quốc hội đều có một phiếu bầu như nhau cơ mà.
Điều 26, 27-Soạn thảo và biên tập: Thường việc soạn luật do các tổ biên tập làm, kinh phí rất khiêm tốn, các ban soạn thảo là quan chức, lại có ít nhất tới 9 người, cho nên muốn tổ chức được một cuộc họp đầy đủ các thành viên đã khó. Trong khi soạn dự luật, Chính phủ quy định các ban này như thế nào là việc nội bộ tùy Chính phủ, dân chúng thường chỉ quan tâm khi đạo luật này được soạn xong và đưa ra tranh luận tại nghị viện.
Điều 37-54- Hai lần đọc luật: Tư duy thông qua luật bằng ít nhất 02-03 lần đọc tại nghị viện có vẻ như chưa được du nạp vào đạo luật này. Lần đọc thứ nhất người ta chỉ công bố tên của đạo luật, các chính sách cơ bản. Công việc thẩm tra chính được tiến hành tại các ủy ban, có thể bao gồm cả điều trần và các phiên tư vấn. Sau lần đọc thứ hai, tranh luận tại nghị trường dựa trên báo cáo thẩm tra của ủy ban, tài liệu liên quan đến các dự luật nếu được gửi trước chỉ có một ngày là khá thách thức đối với đại biểu Quốc hội, nếu họ muốn phát biểu nghiêm túc. Lần đọc thứ ba thường diễn ra chóng vánh, sau khi dự luật đã được thông qua tại ủy ban.
Chương X-Giải thích pháp luật: Phần về giải thích văn bản pháp luật cần được tranh luận rộng rãi hơn trước khi ghi nhận vào đạo luật này. Nếu như tôi quan sát, Chính phủ và tòa án là hai cơ quan đang giải thích pháp luật nhiều và thường xuyên nhất ở nước ta. Trong trường hợp người dân không thỏa mãn với giải thích của các cơ quan này, cần thiết kế các kênh để bảo vệ công lý cho họ.
Nghe và lắng nghe: Nhiều năm nay, dự thảo xin ý kiến nhân dân thì nhiều, ý kiến thu được rất đa dạng, song việc tổng hợp và thu nạp những loại ý kiến nào xem ra vẫn tùy vào ý chủ quan của ban biên tập. Ở đâu đó trong dự luật này nên tách biệt giữa chính sách, cách can thiệp chính; sau khi tranh luận và nhất trí cơ bản về chính sách, dịch chính sách ra luật là việc của người có nghề, dân chúng và kể cả dân biểu cũng không nên quá đam mê làm văn tập thể (trừ trường hợp văn bản du nạp những ngôn ngữ quá lạ tai kiểu như IPO trong công văn 319/TTg/KTTH ngày 03/03/2008 về chống lạm phát gần đây).
Bàn ra tán vào, từ vài năm nay tôi đã thấy mỗi dịp góp ý cho văn bản luật không chỉ là cơ hội có thể giúp dự thảo tốt lên, hơn thế nữa, nó tạo tranh luận trong xã hội về những vấn đề liên quan đến dự luật. Tranh luận nhiều có thể tạo ra đồng thuận, hy vọng điều ấy cũng đúng với dự thảo “Luật làm luật” này./.
Chú thích:
[1] Dự thảo “Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật-sửa đổi”, bản thảo ngày 27/02/2008, trong bài này gọi là dự luật.
[2] Nguồn: www.beinet.net.cn/law/index1.html

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI LÀM LUẬT

NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Cần xây dựng đội ngũ người làm luật như thế nào để, khi tiếp cận với các điều luật, người ta không phải thấy loáng thoáng đằng sau đó bóng dáng của những phần tử cơ hội, mang tính cách nhỏ nhen, làm luật theo cung cách của người đi giăng bẫy để triệt hạ đồng loại. Thay vào đó, phải là hình ảnh những con người thanh lịch, thông thái, đầy quyền uy nhưng cũng rất bao dung, rộng lượng, đảm nhận vai trò dẫn đường cho toàn xã hội trong công cuộc kiến tạo trật tự và công bằng.
Điều luật gây dị ứng
Có một điều luật mà, mỗi khi đọc, tôi luôn có cảm giác băn khoăn và hụt hẫng, dù nhiều năm đã trôi qua: Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000. Chính xác hơn, có một đoạn trong điều luật tạo ra cảm giác không dễ chịu này: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn, thi toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng…”.

Băn khoăn, vì không thể hiểu tại sao người làm luật lại buộc thẩm phán chọn một cách xử sự rất đặc thù, nếu không muốn nói là chẳng giống ai. Đáng lý ra, trước một đơn kiện của công dân, người được giao nhiệm vụ bảo đảm công lý trong xã hội có tổ chức chỉ có quyền lựa chọn giữa hai phương án: hoặc tiếp nhận, nghĩa là thụ lý, và giải quyết; hoặc không tiếp nhận, nghĩa là trả đơn mà không thụ lý.
Đơn kiện được tiếp nhận một khi sự việc có tính chất pháp lý và nhất là thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, như trong các trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tư nhân tài sản hoặc kiện đòi huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Tuỳ theo chất lượng của chứng cứ và lý lẽ mà các bên đưa ra, thẩm phán chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu.
Trái lại, đơn kiện không được tiếp nhận một khi sự việc không thuộc thẩm quyền của toà án. Có thể vì đó là việc thuộc quyền giải quyết của một cơ quan nhà nước khác, như trường hợp người dân than phiền về thái độ phục vụ của một công chức. Cũng có thể vì đó là việc hoàn toàn không có tính pháp lý, như trường hợp một người kiện một người khác về hành vi… phụ tình, bạc bẽo.
Hụt hẫng, bởi, cứ đặt mình ở vị trí của đương sự trong vụ án, người ta sẽ thực sự ngơ ngác trước việc nhận lại một quyết định của toà án không công nhận quan hệ vợ chồng, sau khi nộp một lá đơn xin ly hôn. Rõ ràng, trong trường hợp này, có gì đó hơi thô thiển, nếu không muốn nói là lỗ mãng, trong thái độ xử sự mà cơ quan công quyền dành cho người dân thường.
Song, không thể trách thẩm phán hoặc thư ký toà án trực tiếp trao cho đương sự quyết định lạnh lùng, vô cảm đó: họ chỉ làm những gì pháp luật đòi hỏi. Ở đây, chính quy tắc pháp lý cụ thể có vấn đề về tính thích hợp của cách ứng xử được người làm luật xác định trong tình huống dự kiến.
Sự phũ phàng dành riêng cho người nghèo và ít học

Đằng sau điều luật có thể là một câu chuyện dài… đến hơn nửa thế kỷ: chuyện về những nỗ lực của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống các tàn dư của các tập tục hôn nhân phong kiến, cũng như các hệ thống nghi thức kết hôn gọi là phi thế tục.

Các quy tắc của luật viết có khả năng mang dấu ấn động lực sống và tính cách của người sáng tạo ra nó. Ngay lập tức, người ta nhận ra vấn đề làm thế nào để tránh việc lợi ích riêng tư và tính cách tiêu cực của con người chi phối sự hình thành của các quy tắc pháp lý.

Ngay từ cuối những năm 1950, người làm luật đã khẳng định rằng muốn được Nhà nước, xã hội thừa nhận là vợ chồng, thì các cặp chung sống phải đăng ký kết hôn; rằng mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý. Có lẽ, cứ nói mãi mà vẫn thấy nhiều người tiếp tục coi trọng các lễ cưới theo tập tục, tín ngưỡng hơn là lễ đăng ký kết hôn trước nhà chức trách, nên cuối cùng, người làm luật mới giáng xuống quy tắc ấy. Có thể coi đó như một kiểu trừng phạt đối với những ai không biết tôn trọng công sức và tiền bạc Nhà nước đổ ra để xây dựng, hoàn thiện định chế hộ tịch, trong khuôn khổ thiết lập, củng cố trật tự xã hội.
Vấn đề là: chắc chắn, những người có sự hiểu biết nhất định về luật sẽ nhận ra được tính chất phi pháp lý của quan hệ giữa hai người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn: muốn chấm dứt quan hệ, người ta chỉ cần chia tay, đường ai nấy đi, chứ chẳng tội gì mà phải lôi nhau ra toà án, để nhận một quyết định đầy nhạo báng ấy. Vậy cũng có nghĩa rằng người đi nộp đơn trong tình huống dự kiến của điều luật thường là những người ít học và, một cách logic, phải là những người nghèo, lao động chân lấm tay bùn, nói chung, thuộc tầng lớp dưới của xã hội.
Không chỉ ngỡ ngàng và có thể phải cắn răng hứng chịu nỗi bực dọc của người cầm cân nẩy mực, những người trong cuộc còn dễ cảm thấy tủi phận, do bị các công bộc coi như người đã gõ nhầm cửa, vì kém hiểu biết.
Văn hóa ứng xử của người làm luật
Người làm luật, được hiểu là người trực tiếp soạn thảo các điều khoản cụ thể của văn bản quy phạm pháp luật, trước hết, cũng là một con người. Chắc chắn, người làm luật cũng có tính cách riêng, hình thành và được hoàn thiện như là kết quả nhào nặn của thiên hướng ứng xử tự nhiên, do trời phú, và của sự giáo dục tiếp nhận từ gia đình, nhà trường, cũng như sự tác động của môi trường làm việc, giao tiếp.
Đặc biệt, sống cuộc sống bình thường như tất cả mọi người, trong điều kiện bị giằng xé giữa điều thiện và điều ác, cái xấu và cái tốt, hận thù và bao dung… người làm luật cư xử tùy theo kết quả đấu tranh nội tâm để lựa chọn giữa hai thái cực. Sự lựa chọn ấy, rốt cuộc, được chuyển hóa thành thái độ, hành vi cụ thể trong các giao tiếp nhân văn, kể cả các giao tiếp thực hiện trong khuôn khổ công việc chuyên môn, nghề nghiệp, nghĩa là trong việc làm luật.
Nói cách khác, các quy tắc của luật viết có khả năng mang dấu ấn động lực sống và tính cách của người sáng tạo ra nó. Ngay lập tức, người ta nhận ra vấn đề làm thế nào để tránh việc lợi ích riêng tư và tính cách tiêu cực của con người chi phối sự hình thành của các quy tắc pháp lý.
Vả lại, được coi là một loại ứng xử nhân văn, việc làm luật cũng đòi hỏi ở chủ thể ứng xử sự thỏa mãn một loạt các tiêu chí mà xã hội văn minh đặt ra đối với bất kỳ giao tiếp nào, trong đó có tiêu chí về nét văn hóa của hành vi. Trong lĩnh vực xây dựng chuẩn mực pháp lý, tiêu chí này càng cần được chú trọng, bởi lẽ, người làm luật được chính thức trao quyền áp đặt khuôn mẫu xử sự lên toàn xã hội: dưới sự bảo đảm bằng sức mạnh của quyền lực công, người làm luật có quyền buộc mọi chủ thể quan hệ xã hội cư xử theo khuôn mẫu đó.

Nếu văn hóa ứng xử trong việc làm luật không được coi trọng, thì pháp luật sẽ có nguy cơ bị lạm dụng và trở thành công cụ mà người làm luật sử dụng để hạch sách, nhũng nhiễu, thay vì để tổ chức hành vi của chủ thể trong cuộc sống pháp lý.

Người làm luật mà có tính khí hung hăng, háo thắng và không biết tự kiềm chế còn có thiên hướng dùng pháp luật để trút giận và “ăn thua đủ” với xã hội, nhất là khi đứng trước tình trạng có nhiều chủ thể tỏ ra ngoan cố, bất hợp tác với nhà chức trách trong việc phổ cập khuôn mẫu ứng xử được chính thức thừa nhận và cổ vũ: luật trở thành lời cấm đoán, đe dọa, nhiếc móc… Điều khoản nói trên của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 là một minh chứng.

Điều đáng buồn là không khó để tìm thấy những hạt sạn tương tự trong hệ thống pháp luật hiện hành. Cuối năm, báo chí, công luận giật mình khi nghe nói người lãnh đạo ngành giáo dục đang cân nhắc việc ra một quy định cho phép ghi chú việc sinh viên vay nợ để học tập vào bằng tốt nghiệp. Biện pháp này được lý giải như một cách lưu ý người sử dụng lao động về tình trạng nợ nần của sinh viên, qua đó, tranh thủ sự hợp tác của người sử dụng lao động trong việc thu hồi vốn vay. Đúng là chủ nợ nào cũng lo mất vốn; nhưng giảm thiểu rủi ro mất vốn bằng một biện pháp khiến người ta liên tưởng đến việc đóng dấu nhận dạng vào thân thể người nô lệ ngày xưa, thì… đúng là hết chỗ nói. Cũng may, đó chỉ mới là ý tưởng.
Hiện tượng “ra đòn độc” bằng luật có thể được ghi nhận không chỉ trong quan hệ giữa người làm luật với dân mà, thậm chí, còn giữa những người làm luật với nhau. Ví dụ nổi đình đám nhất trong năm vừa qua, có lẽ là chuyện giữa một bên gồm những người làm Luật đất đai và Bộ luật dân sự, với bên kia, những người làm Luật nhà ở: xây dựng các quy tắc chống lại nhau, những người làm luật đẩy xã hội vào một ma trận giấy hồng, sổ đỏ, giấy trắng… rối rắm và đầy bất trắc.
Bài học rút ra, từ tất cả những chuyện đó, rất ngắn gọn: muốn làm luật, trước hết phải học làm người. Để có những điều luật tốt và có sức thuyết phục, điều cần thiết là phải có những người làm luật tốt. Không chỉ có trình độ chuyên môn đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật của công việc, người làm luật còn phải có các phẩm chất và nhân cách của người đại diện cho xu thế ứng xử tích cực trong xã hội.

LUẬT TỤC VỚI THI HÀNH PHÁP LUẬT

NGUYỄN CHÍ DŨNG

Thực hiện chương trình sinh hoạt khoa học năm 2005, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp đã phối hợp với Khoa Luật học, trường Đại học Đà Lạt tiến hành một Hội thảo về chủ đề “Luật tục với thi hành pháp luật” tại trường Đại học Đà Lạt ngày 23/4/2005. Tham gia Hội thảo có các nhà nghiên cứu luật học, xã hội học, dân tộc học, đại biểu Quốc hội, HĐND, đại diện một số cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước, một số già làng và sinh viên luật. Hội thảo trao đổi về kết quả nghiên cứu, khảo sát của Đại học Luật Đà Lạt tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số ở trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng về quan hệ giữa luật tục với pháp luật, vai trò của luật tục trong quản lý địa phương
I. Đặt vấn đề
Khái niệm Luật tục đề cập trong Hội thảo này bao gồm các quy định thành văn hay bất thành văn của những cộng đồng dân cư, tồn tại trên cơ sở truyền thống, tập tục, tục lệ, quy ước và được thừa nhận, duy trì trên cơ sở uy tín cộng đồng hoặc chức sắc cộng đồng.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật không loại trừ sự tồn tại của luật tục. Nhà nước pháp quyền thừa nhận vai trò tích cực của xã hội; trong đó có những yếu tố tổ chức, tự quản tốt đẹp của luật tục. Trong thảo luận tại Quốc hội và HĐND trong vài năm gần đây nổi lên nhiều quan tâm về khả năng thực thi pháp luật, trong đó có yếu tố cần được xem xét đến là vai trò của luật tục đối với thi hành pháp luật.

Khởi đầu hội thảo, một số câu hỏi được nêu lên: trong thực thi pháp luật, luật tục đóng vai trò như thế nào? Đâu là yếu tố hỗ trợ thi hành, có hay không những yếu tố cản trở thi hành hoặc tạo ra ngoại lệ? Trong đó ngoại lệ nào được pháp luật chấp nhận? (một số nhà nghiên cứu dùng khái niệm “sự nhượng bộ của nhà nước”), ngoại lệ nào không? và số phận của ngoại lệ này trên thực tế? Sự chấp nhận của pháp luật đối với luật tục thường theo hình thức nào? Bằng cách quy định vào luật hay tại các hướng dẫn thi hành, hay qua vận dụng thực tế? Trong quản lý địa phương, có một câu hỏi đặt ra là: các cơ quan chính quyền địa phương nên ứng xử như thế nào đối với vai trò luật tục trong tự quản cộng đồng?
Đã có nhiều khảo cứu ở Việt Nam về luật tục, hương ước, cả ở góc độ chung lẫn theo từng nhóm dân tộc. Hội thảo này nghiên cứu vai trò và vị trí của luật tục trong tổ chức, thi hành pháp luật ở Việt Nam qua những bài viết, khảo cứu ở một số nhóm dân tộc và hình thành quan điểm ban đầu trả lời những câu hỏi trên đây và đặt ra những vấn đề mới cần nghiên cứu tiếp tục, kết hợp kết quả nghiên cứu văn hoá về luật tục với nghiên cứu pháp luật về luật tục.

Ban tổ chức hội thảo thống nhất nhận thức rằng những nghiên cứu và kết quả nghiên cứu luật tục với thi hành pháp luật cần dựa trên những nghiên cứu dày công của các nhà văn hoá, dân tộc học và khoa học xã hội nói chung.
II. Nghiên cứu văn hoá về luật tục

Theo Từ điển Luật học, luật tục là tập tục, phong tục tập quán của một cộng đồng, được hình thành tự phát và được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, tuân theo trong quan hệ với nhau. Luật tục thể hiện bao quát, phong phú các mối quan hệ xã hội truyền thống, ít thay đổi và hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, kể cả ở nhiều nước phát triển. ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn hoá cho rằng luật tục về căn bản đã nhường bước cho luật thành văn, tuy nhiên, những phong tục, tập quán tốt đẹp vẫn được duy trì, vận dụng phù hợp với xã hội mới.
PGS, TS. Ngô Đức Thịnh (Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hoá dân gian) sau nhiều năm nghiên cứu về luật tục đã khái quát về luật tục như sau: “Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, được hình thành trong lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này qua đời khác bằng trí nhớ qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn quan hệ xã hội, quan hệ con người với thiên nhiên. Những chuẩn mực ấy của cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, nhờ đó đã tạo ra sự thống nhất và cân bằng trong mỗi cộng đồng. Luật tục như hình thức phát triển của phong tục, tục lệ và là những hình thức sơ khai của luật pháp”[1].
Cũng theo nghiên cứu của TS. Ngô Đức Thịnh, luật tục có những đặc điểm và giá trị sau đây:
Đặc điểm
1) Luật tục là hình thức phát triển cao nhất của phong tục tập quán. Bản chất nguyên thủy của luật tục ra đời chứa đựng các quy tắc xử sự chung trong phạm vi cộng đồng và có tính bắt buộc thực hiện thông qua sự tự giác, tự nguyện của mỗi thành viên trong cộng đồng.
2) Luật tục chứa đựng những bản sắc văn hoá độc đáo của mỗi tộc người. Luật tục ra đời, biến đổi và quy định những hành vi của từng cá nhân trong cộng đồng phù hợp hoàn cảnh xã hội.

3) Luật tục có phương pháp xử lý rất linh hoạt, đôi khi, trong một trường hợp nhưng có nhiều cách xử sự khác nhau. Ngay như hương ước cũng có sự thay đổi nhất định.
Giá trị xã hội của luật tục

Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của pháp luật càng lớn, càng tạo tiền đề cho nó chuyển dần sang sự thực hiện mang tính tự quản. Luật tục, ở một phạm vi nhất định cũng có vai trò, giá trị xã hội quan trọng như pháp luật là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, duy trì và đảm bảo trật tự cộng đồng.
Ngoài luật của nhà nước, cá nhân trong một cộng đồng còn chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm xã hội khác như đạo đức, tín ngưỡng. Nói một cách khác, pháp luật không thể giải quyết mọi vấn đề, không thể dùng pháp luật tác động đến mọi quan hệ xã hội. Các thiết chế ngoài pháp luật trong đó có luật tục vừa chịu ảnh hưởng nhất định của pháp luật và cũng tác động ngược lại pháp luật. Trong thực tế, ở nhiều nước, một số phần của luật tục được kết hợp với pháp luật của nhà nước.
Luật tục ra đời trước pháp luật như một nhu cầu tất yếu của cuộc sống và được thực hiện một cách tự nguyện. Kể cả khi pháp luật mất đi thì nó vẫn tồn tại, pháp luật chỉ có thể thay thế một phần chứ không thay thế được tất cả các quan hệ xã hội. Hơn nữa, các thói quen xã hội do luật tục tạo nên có ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức pháp luật, thực hiện pháp luật, thậm chí với sự ràng buộc mạnh hơn.

Nắm vững luật tục để thực thi hiệu quả pháp luật là mục tiêu hướng tới của các nhà lập pháp, quản lý, tư pháp và toàn thể xã hội.
II. Kết quả thảo luận

Tham luận
Hội thảo đã nghe 8 báo cáo tham luận và thảo luận về các vấn đề: Khái niệm, khái luận về luật tục; vị trí và vai trò của Luật tục trong mối quan hệ với pháp luật, quản lý xã hội vĩ mô và vi mô; sự hình thành và vai trò của luật tục trong sinh hoạt và quản lý cộng đồng của một số dân tộc ít người: K’ hor, Chăm, một số dân tộc ở Tây nguyên; vận dụng tục lệ trong xét xử; vai trò của hoà giải qua cơ chế luật tục trong giải quyết tranh chấp và quản lý cộng đồng ở một số cộng đồng dân tộc ít người; sự cần thiết của nghiên cứu luật tục để tiếp thu bổ sung, hoàn thiện các dự án lập pháp, lập quy để tăng cường tính khả thi của pháp luật; về việc xây dựng và thực hiện giảng dạy luật tục ở Đại học Đà Lạt.
Những điểm thống nhất
Trong một ngày làm việc khẩn trương và hiệu quả, với nhiều ý kiến trao đổi, tranh luận, bình luận, Hội thảo đã thống nhất những kết luận và đề xuất các giải pháp, hướng nghiên cứu tiếp tục sau đây liên quan tới chủ đề Hội thảo:
1) Khái niệm
Có nhiều nghiên cứu xã hội học, dân tộc học, văn hoá, luật học hoặc đa ngành về phong tục, tập quán, thần linh, tín ngưỡng, về cách tổ chức và quản lý cộng đồng dân cư có cấu kết chặt chẽ, gắn bó về văn hoá và truyền thống. Những kết quả nghiên cứu này đưa ra những định nghĩa chuyên biệt về những đối tượng nghiên cứu trên đây và khái quát trong khái niệm “luật tục”, hoặc sử dụng tương đương với khái niệm “luật tục” là đối tượng của một chuyên ngành nghiên cứu luật học ở nhiều nước phát triển. Những thuật ngữ tương đương hoặc gần nghĩa với luật tục thường được nhắc đến là luật không thành văn, luật dân gian, luật của dân bản địa (indigenous law), luật sơ khởi (primitive law), luật bộ lạc (tribal law), luật truyền thống (traditional law), luật tồn tại trong dân gian (living law)…
Hội thảo này thừa nhận những thành tựu nghiên cứu trên đây, và xuất phát từ đó để xem xét và đánh giá vai trò của “luật tục” với thi hành pháp luật và quản trị địa phương; coi đối tượng nghiên cứu này như là một bộ phận những quy phạm điều chỉnh hành vi của những cộng đồng dân cư có tính kết cấu chặt chẽ thông qua các yếu tố văn hoá, truyền thống, bản sắc, sắc tộc, lòng tin, địa lý. Những quy phạm này có thể dưới dạng thành văn hay không thành văn, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang tính bền vững và duy trì hiệu lực qua những thiết chế tổ chức được cộng đồng mặc nhiên thừa nhận (già làng, trùm đạo, người có chức sắc tôn giáo ở một số dân tộc ít người) hoặc các chức sắc cộng đồng qua bầu cử (trưởng thôn, trưởng bản) và có giới hạn hiệu lực trong cộng đồng. Những quy phạm này không do một thiết chế nhà nước tạo lập nên, nhưng có thể được nhà nước thừa nhận thông qua hoạt động lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp.
Hội thảo cũng đề cập tới Hương ước (cũ và mới) như đối tượng luật tục với những thay đổi về tổ chức và cấu kết của cộng đồng dân cư phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ, cũng như tình trạng biến dạng tới mức “đồng phục hoá” của Hương ước mới. Cũng có ý kiến ban đầu cho rằng “luật tục” dường như không phải là phương cách quản lý thích hợp của cộng đồng không có tính cấu kết xã hội chặt chẽ, ví dụ ở đô thị.
2) Một số nhận thức sau hội thảo
a. Sự khác biệt giữa luật tục và luật pháp: Hội thảo thừa nhận rằng luật tục tồn tại trước pháp luật, do đó sự khác biệt giữa luật tục với pháp luật là đương nhiên. Vấn đề là Nhà nước nên có thái độ như thế nào đối với sự khác biệt này. Đơn cử đối với sự khác biệt về độ tuổi kết hôn trong luật tục Chăm và độ tuổi quy định bởi Luật Hôn nhân và gia đình, hiện nay chưa có cách ứng xử thống nhất, dẫn đến những hậu quả pháp lý khác liên quan tới quyền và nghĩa vụ. Trong khi phân tích sự khác biệt, nên có quan điểm khách quan và phát triển, không nên kết luận về tính tích cực hay lạc hậu của một tập tục của một sắc tộc trên quan điểm của một sắc tộc khác.
b. Luật tục có vai trò bổ sung cho pháp luật và thiết chế nhà nước, hệ thống chính trị ở những cộng đồng dân cư có tính cấu kết chặt chẽ bởi phong tục, truyền thống, văn hoá bản địa. Không thể máy móc nghĩ đến việc pháp điển hoá luật tục chung cho mọi cộng đồng dân cư hoặc “đồng phục hoá” hương ước, thay vì đó, nên nghiên cứu phát huy bản chất tốt đẹp của luật tục để đa dạng hoá các quy phạm điều hành xã hội; nắm vững luật tục để thực thi tốt pháp luật.
c. Trong lập pháp, lập quy: Để pháp luật thi hành nghiêm chỉnh và hiệu quả, trong lập pháp và lập quy cần tính đến tính đặc thù của luật tục trong những nhóm dân cư là đối tượng điều chỉnh, thừa nhận những yếu tố tích cực của luật tục để tổ chức thi hành luật hiệu quả tại cộng đồng dân cư, ví dụ nghiên cứu về pháp luật hôn nhân, gia đình, dân số, bình đẳng giới, quản lý và sử dụng đất đai, đất rừng thích hợp với đặc thù của cộng đồng dân cư, dân tộc thiểu số. Muốn thế, cần tính đến luật tục và các yếu tố đặc thù này trong giai đoạn phân tích chính sách, phân tích tác động của quy phạm dựa trên những kết quả nghiên cứu dân tộc học, văn hoá, nhân văn kết hợp điều tra tác động thực tế sau ban hành pháp luật.
d. Gạn đục khơi trong qua thuyết phục: Trong điều kiện hoàn cảnh thay đổi, trên quan điểm khách quan, phát triển, cần nhận diện những yếu tố tích cực của luật tục để tiếp thu và phát huy, đồng thời thông qua vận động giáo dục để loại bỏ hủ tục.
đ. Tăng cường sự tham gia của nhân dân ở bình diện cộng đồng dân cư để góp ý vào xây dựng pháp luật, pháp quy địa phương.
e. Phát huy cơ chế luật tục để quản lý cộng đồng: Liên quan tới thực hành dân chủ ở cơ sở, xây dựng tự quản cộng đồng, cần phát huy các quy định và cơ chế sẵn có và hiệu quả của luật tục, hương ước, vai trò già làng, trưởng bản; tránh hành chính hoá, áp đặt của nhà nước đối với các thiết chế luật tục này.
f. Tăng cường năng lực nghiên cứu luật tục và quản lý xã hội: Cần nghiên cứu luật tục để bổ sung cho pháp luậtC, tăng cường khả năng thi hành của pháp luật và góp phần vào quản lý cộng đồng dân cư ở cơ sở một cách hiệu quả, đóng góp thiết thực cho tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội ở cơ sở. Vì thế cần tập hợp nghiên cứu luật tục các dân tộc, nghiên cứu và định vị những khả năng, lĩnh vực mà nhà nước, nhà nghiên cứu, nhà lập chính sách và cộng đồng các dân tộc cộng tác với nhau hài hoà. Nhà nước cần khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng tri thức về luật tục trong quản lý xã hội; trong đó có nghiên cứu hàn lâm kết hợp với ứng dụng thực nghiệm, xây dựng và tổng kết mô hình.
Trong xét xử, thi hành án, đền bù (hành chính), cần nghiên cứu sâu hơn để có thể có cách thức thích hợp vận hành luật tục có chọn lọc, hỗ trợ cho việc thi hành pháp luật một cách hiệu quả – đó cũng chính là việc góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống.
3. Cách tiếp cận nghiên cứu tiếp tục:
Với sự thống nhất cao rằng luật tục đóng một vai trò không thể phủ nhận trong quản lý xã hội hiện đại, trong đó bao gồm quản lý vĩ mô (lập pháp, hành pháp, tư pháp, ban hành chính sách, pháp quy trong hệ thống pháp luật quốc gia, hệ thống chính trị), và quản lý địa phương (đặc biệt tại cộng đồng dân cư), vì vậy cần đầu tư nghiên cứu lý luận và thực tiễn, kết hợp kết quả nghiên cứu cơ bản đa ngành, đa lĩnh vực về luật tục để áp dụng trong lý luận và thực tiễn nghiên cứu quản lý nhà nước. Những nghiên cứu này cần nhằm làm sáng tỏ những giá trị sau đây:
a. Giá trị bền vững và hiệu quả của luật tục trong quản lý cộng đồng ở cơ sở, biểu hiện qua hoà giải và giải quyết tranh chấp bằng luật tục.
b. Ý nghĩa tích cực của việc thừa nhận và áp dụng luật tục trong quản lý xã hội và nhận biết những khác biệt của luật tục trong quan hệ với pháp luật và hoạt động của chính quyền để tìm ra hướng phát huy hoặc khắc phục.
c. Khai thác giá trị nói ở điểm a để nêu sự cần thiết tính đến tập tục, phong tục, tập quán sinh sống và tổ chức đời sống văn hoá, kinh tế khi nghiên cứu ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhằm mục đích đưa đời sống vào pháp luật để pháp luật đi vào cuộc sống và được chấp hành nghiêm chỉnh.
d. Khai thác và phát huy giá trị của luật tục trong tự quản cộng đồng, xây dựng một xã hội công dân tăng cường sự tham gia của các thành viên vào quản lý xã hội. /.
————————————————� �———————————–
[1] Định nghĩa của GS Ngô Đức Thịnh (1999), trích trong Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất, khoán rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, PGS. TS, Hoàng Xuân Tý, (Kỷ yếu hội thảo Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam), Nxb. Chính trị Quốc gia, năm 2000.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 52, THÁNG 5/2005


Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Categories

%d bloggers like this: