Posted by: minhanhtran80 | 2009/10/14

TỔNG HỢP VỀ CA DAO

CA DAO NÓI VÈ CÁCH LÀM CON

– Chiều chiều xách giỏ hái rau,
Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần

– Lấy chi trả thảo cho cha.
Trả ơn cho mẹ, con ra lấy chồng.

– Chiều chiều ra đứng ngõ sau.
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

– Quả cau nho nhỏ
cái vỏ vân vân
nay anh học gần
mai anh học xa
tiền gạo thì của mẹ cha
cái nghiên cái bút thiệt là của em.

– Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

Đói lòng ăn bát cháo môn
Để cơm nuôi mẹ cho tròn hiếu trung.

– Em thì đi cấy lấy công,
Để anh nhổ mạ tiền chung một lời.
Đem về cho bác mẹ xơi,
Làm con phải thế em ơi !

– Em thì đi cấy ruộng bông.
Anh đi cắt lúa để chung một nhà.
Đem về phụng dưỡng mẹ cha
Muôn đời tiếng hiếu, người ta còn truyền.

– Công cha, nghĩa mẹ nặng triều,
Ra công báo đáp ít nhiều phận con.

– Ở nuôi cha mẹ trọn niềm,
Bao giờ trăng khuyết lưỡi liềm hẵng hay

– Cau non khéo bổ cũng dầy,
Trầu têm cánh phượng để thầy ăn đêm.

– Ví dầu con phụng bay qua,
Mẹ nói con gà, cũng phải nghe theo.

– Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

– Nuôi con cho được vuông tròn
Mẹ thầy dầu dãi, xương mòn gối long
Con ơi, cho trọn hiếu trung
Thảo ngay một dạ, kẻo luống công mẹ thậy

– Cá không ăn muối cá ươn.
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

– Dạy con con chẳng nghe lời
Con nghe ông kễnh, đi đời nhà con

– Thờ cha, thờ mẹ hết lòng,
Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

– lam con phai tron phan con
mai sau phai biet lo tron me cha
lo mai cha yeu me gia
phan con con phai do dan me cha

CA DAO TỔNG HỢP

Duyên Anh

Nói về ca dao là nói về thơ lục bát. 95 phần trăm ca dao đều làm bằng thơ lục bát. Nếu ca dao là thân hình thì lục bát là dôi tay ôm chặt lấy. Gắn bó. Thơ lục bát rất dễ và rất khó làm. Người làm thơ lục bát hay thì đó là thơ lục bát. Người làm thơ lục bát dở thì đó là vè. Lục bát dễ biến thành vè lắm. Tôi đã nói Nguyễn Du đẩy thơ lục bát đến chỗ cao sang. Tôi nói thêm, Huy Cận đã đưa thơ lục bát vào cổ kính. Hai người làm thơ lục bát hay nhất. Sau hai người tài tử, chưa một thi sĩ nào làm thơ lục bát khiến ta khâm phục. Chúng ta đem Truyện Kiều ra so sánh với Lục Vân Tiên. Thấy ngay cái cao sang của Nguyễn Du và chất vè của Nguyễn đình Chiểu. Ca dao khác hẳn, chỉ là lục bát, không bao giờ là vè cả. Vì ca dao ngắn, 2 câu đến 10 câu là dài.

Qua đình ngả nón trông đình
Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
(Hai câu)
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Ðể anh trấn thủ nước non Cao Bằng
(Bốn câu)
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Cô về, sư ốm tuơng tư
Ốm lăn ốm lóc để sư trọc đầu
Muốn ăn đậu phụ tương dầu
Mài dao đánh kéo gọt đầu đi tu
(Sáu câu)
Văn chương phú lục chẳng hay
Trrở về làng cũ học cầy cho xong
Sáng ngày vác cuốc chăm đồng
Hết nước thì lấy gầu sồng tát lên
Hết mạ ta lại quẩy thêm
Hết thóc ta lại mang tiền đi đong
Nữa mai luá tốt đầy đồng
Gặt về đập xẩy bõ công cấy cầy.
(Tám câu)
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc tháng ba hôị hè
Tháng tư đong đậu nấu chè
Ăn Tết Ðoan Ngọ trở về tháng năm
Tháng sáu buôn nhãn bán trăm
Tháng bẩy ngày rằm xá tội vong nhân
Tháng tám chơi đèn kéo quân
Bước sang tháng chín chung chân buôn hồng
Tháng mười buôn bấc bán bông
Tháng một tháng chạp nên công hoàn toàn
(Mười câu)

Ca dao nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tự của nó ôm gọn dân tộc trong lòng. Từ tình yêu, nỗi khổ cực, niềm lo lắng đến giáo dục về sự thật thà, chế nhạo tật xấu, bài xích nhẹ nhàng kẻ ác, khôi hài thống trị…, đều có trong ca dao. Nó là Việt Nam đôn hậu, chất phác. Ngày xưa, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng hơi thở của ca dao, chúng ta yêu nước chúng ta lắm. Ðiệu ru nào đã ru ta ngủ, vẫn không ngoài ca dao.

Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về

Ngày nay, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng thứ khác. Không phải ca dao. Chúng ta bỏ quê hương – quê hương nông nghiệp – tìm chỗ thị thành mà ở, sống theo đuổi văn minh, vật chất tây phương. Chúng ta quên dần, quên hết ca dao. Một ngày nào đó, ca dao sẽ là cái gì kỳ cục mà chúng ta không thèm biết đến. Nếu chúng ta là nhà văn, nhà thi sĩ thì ca dao sẽ thành lạc hậu. cài trữ tình hôm qua đâu bằng cái trữ tình hôm nay. Chúng ta đọc tiểu thuyết Anh Mỹ, tiểu thuyết Pháp và, nếu cần, ta mượn cốt truyện của ngoại quốc làm cốt truyện của mình, có phải ta nghìn lần lãng mạn hơn ca dao vớ vẩn. Bây giờ, chúng ta mới, mới, mới và mới; chúng ta dứt khoát với quá khứ nó ràng buộc ta với quê hương ta. Tình tự dân tộc nó nhỏ bé quá, chúng ta tiến lên hàng vĩ đại tình tự với con người. Chúng ta định tình tự với thế giới, với con người bằng cái gì? Ở những cuốn tiểu thuyết gầy ốm, cóp nhặt tư tưởng của thiên hạ bừa bãi à? Cũng đuợc, loài người khó tính lắm, muốn đọc sách của chúng ta dịch sang tiếng nưóc ngoài thì họ mới hiểu chúng ta tình tự với họ với con người. Không, chúng ta không dại thế. Chúng ta chỉ thích mới, mới, mới và mới thôi. Chúng ta ra khỏi hàng ngũ những người lạc hậu và tình tự dân tộc. Mới mà không biết mới về đâu, đó là cuộc phiêu lưu không tưởng. Chúng ta chẳng hiểu đi tới bờ bến mới nào, có điều đường về quê hương đã bít lối.
Tôi không dám nhập vào cái chúng-ta-to-lớn quá. Vậy xin nhận cái tôi nhỏ bé, lạc hậu. Cái tôi nhỏ bé thách cái chúng-ta-to-lớn biểu diễn sáu câu ca dao “tán gái” sau đây:

Hôm qua tát nước dầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được cho chúng anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh không có mẹ già chưa khâu.

và bốn câu ca dao lãng mạn:

Lạy trời mưa nắng phải thì
Nơi thì cày rộng nơi thì bừa sâu
Công lao chảng quản lâu đâu
Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng

Người nông dân lạy trời nắng mưa hòa thuận để cầy bừa cho dễ dàng. Công lao không lâu đâu. Cứ hy vọng “ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng.” Thi sĩ ca dao mới lãng mạn biết chừng nào: Nước bạc ngày nay, cơm vàng ngày sau. Tuyệt vời cách ví von như thế. Tôi nghĩ rằng thi sĩ bác học có nghĩ cả đời cũng không làm nổi câu thơ thứ tư của thi sĩ ca dao.

Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trròi yên biển lặng mới yên tấm lòng.

Nỗi đau khổ của nông dân kể lể đau lòng quá. Từ trong nỗi khổ vẫn bùng lên cơn mơ mộng “Trông cho chân cứng đá mềm” tôi dám cam đoan rằng, trên thế giới, không có đại thi hào nào mơ mộng như người nông dân Việt Nam. “Trông cho chân cứng đá mềm” là giòng suối mơ mộng của thi sĩ ca dao. Giòng suối róc rách chảy đến vô tận. Chúng-ta-to-lớn thường mô tả cảnh bắt quân dịch và đầy ra mãi vùng I chiến thuật phục vụ. Những cảnh ấy, chúng-ta-to-lớn phải viết nhiều trang. ca dao có bốn câu, thưà xúc động.

Một tay thì cắp hoả mai
Một tay xách giáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Người quân dịch trấn thủ phương xa. Chúng-ta-to lớn sẽ nằm một chỗ, tuởng tượng sự cô đơn và nỗi thống khổ của người lính quân dịch hết một cuốn. Ca dao có bảy câu, bát ngát cô đơn.

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẳn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Nhũng giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nuớc giếng trong con cá nó vẫy vùng

Những đại văn hào, đại thi hào không thèm nghe ca dao nữa. Tôi xin lỗi các vị, nói chuyện ca dao với người khác. Trong cuốn Anthologie de la littérature populaire du Viet Nam, tác giả đã dịch một số ca dao. Thử mời các bạn thưởng ngoạn ca dao… Pháp văn:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vồn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây luá còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Ô mon buffle! Viens dans la rivière et labourons
Labourons et repiquons
Comme nos ancêtres paysans
Ni toi, ni moi
N’épargnons notre peine
Tant que les pallntes ne portent les épis
Il y aura toujours
Quelques brins d’herbe dans le champ
Pour que tu les manges, ô mon buffles!

Lỗ muĩ em những tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Ðêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Ði chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo ăn quà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu

Dis huit poils rugueux
Lui sortent des narines
Le mari l’aime
Il dit:
-“C’est un présent du Ciel:
La barbe du dragon”!
Un ronflement, la nuit,
Morte avec son sommeil
Le mari l’aime
Il dit” Pourquoi s’en plaindre”?
S’en va-t-elle au marché
Elled grignote sans arrêt
Le mari l’aime
Il dit:
-“Qu’importe! A la maison
Elle mangera moins de riz”.
Ses cheveus ne sont plus
Sue paille desséchée
Le mari l’aime
Il dit:
-“Sa tête est couronnée De fleurs au doux parfum!”

Tôi trích hai bài thôi và ở trong sách Anthologie de la littérature du Viet Nam không có bài ca dao tiếng Việt in kèm với bản dịch Pháp ngữ. Thành ra, người Việt Nam không hề biết ca dao mà đọc ca dao dịch sẽ chẳng thấy một hình ảnh nào lạ trong ca dao. Họ sẽ thất vọng ngay. Ngưòi ngoại quốc cũng thế. Nước ta ở một tình trạng nan giải. Quê hương nghèo nàn, nô lệ nhiều năm, nước nhỏ bé, ngôn ngữ ngoài phạm vi nước mình thì chả ai thèm biết tới, cho nên, những caí hay đẹp của ta như ca dao, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du … , dịch sang ngoại ngữ găp nghiều trở ngại. Mà chính ra ca dao không thể dịch, không nên dịch. Chắc rằng, cũng biết gặp khó khăn nên ông Hữu Ngọc cứ dịch, vì lòng yêu nước của ông thúc dục ông.
Tôi xin thành thực hoan nghênh ông, nhưng cũng thành thực phản đối khi ông nhắm ca dao vào mục đích tuyên truyền. 17 bài ca dao ông dịch giới thiệu “Ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến”. Ca dao là nghệ thuật. Nghệ thuật khác với kỹ thuật. Cách mạng tạo ra kỹ thuật cho con người, nhưng không thể, không bao giờ thể, tạo ra nghệ thuật cho con người. Trời cho con người nghệ thuật. Mọi sự rung động từ trái tim con người thoát ra. Cách mạng có làm cho con người rung động hay không, chứ không bắt con người phải rung động. Thi sĩ ca dao là nghệ sĩ đích thực. Nói thật đúng, thi sĩ ca dao của nguời là chính ca dao. Tôi sợ rằng ca dao “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến” là ngụy ca dao.
Ca dao đã mất hút từ hơn 100 năm nay. Không phải các thi sĩ giết chết ca dao bằng những tập thơ ấn loát đẹp và phổ biến về tận làng mạc xa xôi. Chẳng ai giết nổi ca dao khi nó còn sống và cần sống. Chẳng ai cứu nổi ca dao khi nó muốn chết và cần chết. Ði một chu kỳ ngót bốn ngàn năm, ca dao đã sáng tác thừa thãi cho dân tộc sử dụng. Ðã đến lúc ca dao chất dứt bổn phận của nó. Văn học dân gian cũng thế. Cái tối cần thiết hôm nay là tìm tòi ca dao còn ẩn mặt tại nông thôn. Tôi chưa biết ca dao miền Trung. Tôi chưa biết ca dao miền Nam. Tôi chỉ biết rất ít ca dao miền Bắc. Bây giờ, nếu bỏ ra 5 năm, tung những người yêu ca dao đi khắp ba miền đất nước tìm kiếm ca dao, tôi tin rằng mỗi miền sẽ đóng góp cho đất nước hàng chục pho sách. Bấy giờ, chúng ta giàu có ca dao. Bấy giờ, không cần ai làm ca dao nữa. Tất cả đều có trong ca dao. Nói thêm nữa bằng thừa. Ca dao tự nó biến thành nền móng và khi nó cảm thấy nền móng vững chắc rồi, ta cứ việc xây văn chương bác học. Và tiểu thuyết, thi ca cứ vất lên cái nền móng đó. Hay thì ở lại. Dở thì ném đi. Ca dao đã biết trước chúng ta, đã ly biệt hơn 100 năm nay. Thế mà ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze cải táng ca dao, lôi xác chết bảo rằng “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến”. Hai cuộc kháng chiến là chống Pháp giữ nước và chống Mỹ cứu nước.
Cứ dở hết ca dao ra mà coi, 1000 năm nô lệ giặc Tàu, có câu nào nói về Tàu, nói về quân xâm lăng tàn ác nhất loài người không? Bảo là 1000 năm ấy không có kháng chiến ư? Hai bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Ðế, Bố Cái Ðại vương … đã khởi nghĩa đánh nòi Hán đấy. Sử gia Lê văn Hưu viết: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho dến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng”! Ðến 100 năm nô lệ Tây, ca dao cũng chẳng viết câu nào về quân xâm lược dã man. Bảo là 100 năm ấy không có kháng chiến ư? Chuyện 100 Tây đô hộ, ai cũng biét có kháng chiến hay không kháng chiến.
Cách mạng tháng 8-1945, tôi được đọc bài ngụy ca dao như thế này:

Ðeo hoa chỉ tổ nặng tai
Ðeo kiềng nặng cổ hỡi ai có vàng
Làm thân một nước vẻ vang
Ðem vàng giúp nước giàu sang nào tầy
Ðổi vàng lấy súng cối say
Bắn tan giặc Pháp dựng ngày vinh quang

Ông thi sĩ thượng thặng nào đã đẻ ra bài ngụy ca dao quyên vàng của dân chúng cả nước để mua súng cối say bắn tan giặc Pháp, nhưng không mua, mà đem cống Tiêu Văn để nó mang quân Tàu phù về Trung Hoa? Cách mạng tháng 8 biết ông thi sĩ ấy. Hồi kháng chiến chống Pháp, ở hậu phương, tôi đã thuộc những câu ngụy ca dao dưới đây:

Thực dân hỡi thỡi thực dân
Ðàng nào thì cũng một lần về thôi
Việt Nam của Việt Nam rồi
Cướp làm sao nổi đất người Việt Nam

Diễn tả cảnh dã man của Pháp, hai câu ngụy ca dao lên tiếng:

Trẻ thơ đã tội tình gì
Bị quăng vào lửa chỉ vì thực dân

Một bài nữa tả anh chồng trách vợ:

Ðêm nay anh đi đánh Tây
Cửa nhà cậy có bu mày trông coi
Làm sao khóc lóc lôi thôi
Có vợ ai tồi như thế hay không

Tôi nói ca dao đã biệt ly hơn 100 năm, kể tư khi thời đại đánh mốc bằng hai câu chua xót:

Ngày xưa ta cũng có vua
Bây giờ mất nước, bonjour Toàn Quyền

Nhưng không có gì tuyệt đối cả, cũng còn vài người tương tư ca dao, thỉnh thoảng thốt lên lời cay đắng. Câu ca dao cay đắng dưới đây làm trong cách mạng tháng 8 đã 15 tuổi:

Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương

Cách mạng dùng chế độ gạo cai trị dân còn hơn thực dân dùng roi điện tra tấn con người. Tôi rất thích bốn câu ca dao làm trong cách mạng tháng 9, đuợc 3 tuổi.

Việt Nam dân chủ cộng hòa
Con tôm con tép bò ra biểu tình
Con cá đi lính Việt Minh
Con cua cũng lại ra đình hoan hô

Chỉ có hai câu ca dao là chính ca dao rơi rớt lại. Còn thì rặt ngụy ca dao. Ca dao bay bổng, bay cao, bay xa trên vùng trời Việt Nam. Ca dao nói về tình ái, nói về hạnh phúc, nói về đau khổ, nói về thương yêu, nói về cười cợt, nói về nhân nghĩa… Ca dao không nói về thù hận. Những kẻ cướp nước ta đã có người đuổi chúng và diệt chúng. Ca dao không để ý việc này. Ca dao sống tự nhiên với hạnh phúc và đau khổ. Ca dao cao thượng vô cùng, không oán ghét cả kẻ thù của mình. Ca dao không khen ngợi ai. Không ai có quyền hành bắt ca dao khen mình, Thỉnh thoảng, ca dao mới lên tiếng về thống trị đi quá đà.

Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Ði thì ăn cướp quần chồng sao đang

Dân miền Bắc vốn không ưa gì Tự đức, cảm tình đã trao tặng Quang Trung rồi. Nghĩ đến chuyện đào mả Quang Trung, lấy đầu lâu đái vào, dân đã khinh bỉ Gia Long. Mà việc Tự Ðức cấm đàn bà mặc váy, ca dao chỉ nói nhẹ nhàng. Ca dao không tàn tệ với ai cả. “Ca dao mới” đem tên các lãnh tụ cộng sản ra chửi bới thậm tệ là ngụy ca dao. Ca dao không nịnh bợ người nào. Hai câu dưới đây thổi phồng ông Hồ Chí Minh:

Tháp Mưòi đep nhất bông sen
Nước Nam đẹp nhất có tên bác Hồ

cũng là ngụy ca dao. Vậy thì ca dao “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến” là ngụy ca dao, phải chăng, thưa ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze!

Tôi viết hơi dài rồi. Phải tìm mấy điệu ca dao làm kết luận bài này mới đuợc. À tốt lắm, tôi lôi con gà, con lợn, con chó, con mèo, con ngựa, con kiến, con tôm, con cua, con cá ra quần chúng nó một phen.
– Kiến tại sao mày kiện củ khoai?
– Vì nó còn sống, lại kềnh càng, cháu ăn không nổi tha về tổ không xong. Cháu tức quá đi kiện nó chơi.
– Củ khoai có nói gì không?
– Nó cứ ì ra. Cháu kiện hoài hủy.
– Mày đem việc không dáng gì đi kiện tụng. Mày ăn nó, nhưng không ăn nổi, lại bày trò kiện nó. Ðáng lẽ, nó phải kiện mày.

Con kiến mà kiện củ khoai
Kiện di kiện lại đã hai năm tròn
Bây giờ kiến đã có con
Củ khoai mọc mậm vẫn còn kiện nhau

– Ngựa, sao mày chăm làm vậy?
– Trời sinh cháu ra, bắt cháu làm việc, bác ạ.
– Mèo, sao mày lười thế?
– Trời sinh cháu ra, muốn cháu làm biếng đấy mà, bác ơi!

Con ngựa đi Bắc về Nam
Hay ăn hay ngủ hay làm hay lo
Con mèo nằm bếp co ro
Biếng ăn, biếng ngủ, biếng lo biếng làm

– Mèo kia, mày muốn dò xét chuột, chứ mày đâu tử tế gì mà hỏi thăm nó có nhà hay không?
– Bác đi guốc trong bụng cháu.
– Rồi sao?
– Nó giả vờ giọng ai rồi xỏ xiên bảo đi mua mắm, mua muối về giỗ cha cháu.

Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi dâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo

– Bống này, mày khỏi củ hành đuợc không?
– Ồ tôm có hành thì cháu cũng có hành nó mới dậy mùi.
– Còn cua thì sao?
– Nó phải giã bằng chày, bác ạ!

Cá bông đi chợ cầu Canh
Con tôm đi trước củ hành theo sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.

– Gà, sao mày khóai lá chanh thế?
– Người sắp giết cháu, bác à. Cháu yêu cầu luộc cháu và cắt lá lá chanh thật nhỏ rắc lên
– Lợn, mày đòi hành chi vậy?
– Kho cháu mà có thiếu hành thì có ra gì! Thịt không hành, canh không mắm mờ lỵ.
– Chó, mày dặn dò gì không?
– Riềng là căn bản đã, bác ạ! Rồi mắm tôm sẽ tính sau. Hu, hu, hu…

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đúng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng

Thưa bạn đọc, đủ rồi đấy, câu chuyện ca dao.

CA NGỢI LÒNG YÊU NƯỚC VÀ LÒNG KÍNH YÊU BÁC HỒ CỦA TOÀN DÂN

Vượt sông em chở anh sang
Bến trơn em rắc trấu vàng anh sang
Đêm nay đường trải trăng ngà
Hành quân vẫn nhớ bến phà quê em

Dấu chân trên cát quen quen
Thoạt nhìn đã biết chân em đi tuần
Xôn xao bãi cát trắng ngần
Đếm sao hết được mấy lần em qua
Mắt nhìn như ánh sao sa
Ngày đêm em giữ quê nhà yên bình
Đẹp thay! Bãi cát êm êm
In bàn chân nhỏ của em đi tuần

Đứng trên cầu Cấm em thề:
Chưa xong nhiệm vụ chưa về quê hương

Mù u ba thứ mù u
Lính ta thì tình nguyện chớ tình thù ta chẳng đi
Chị em đã quyết chẳng chùn
Hai vai áo ướt chân bùn đường trơn
Đường trơn thì mặt đường trơn
Em gánh thóc thuế chẳng sờn hai vai
Trời mưa cho ướt lá khoai
Thóc em không ướt vì ngoài lá che
Đường xa, chân bước, tai nghe
Tin vui chiến thắng đưa về khắp nơi

Ngọn núi Truồi vừa cao, vừa dựng
Lòng người Thừa Thiên vừa cứng, vừa dai
Dù cho nắng sớm mưa mai
Sóng đồn gió dập, vẫn tranh đấu cho Nam Bắc trong
ngoài gặp nhau
Bắc Nam là con một nhà.
Là gà một mẹ, là hoa một cành
Nguyện cùng biển thẳm non xanh
Thương nhau nuôi chí đấu tranh cho bền

Ăn trái khổ qua, ai nhả ra cho đặng
Dầu cay, dầu đắng cũng ráng nuốt trôi
Căm thù cay đắng mấy mươi
Ta phải ngậm suốt ba chục năm trời mới diệt hết xâm lăng

*TÌNH KHÚC CA DAO

* Người Việt Nam chúng ta ai cũng có niềm tự hào: dân tộc chúng ta có hơn bốn ngàn năm văn hiến. Văn chương Việt Nam thật là phong phú, thi văn được phát xuất và phổ biến trong mọi tầng lớp xã hội. Những thi sĩ, văn sĩ thì mô phỏng theo văn thơ chữ Hán, mà sáng tác ra một số thi ca bằng chữ nôm. Những người bình dân đã đem tư tưởng, tâm tình của mình ra mà diễn tả bằng những câu văn vần, rồi truyền miệng với nhau. Đó chính là hình thức đầu tiên của Tục ngữ và Ca dao.

Trải qua năm tháng, các câu đó được thêm bớt, sửa chữa, gọt dũa để rồi tới ngày nay, chúng ta đã có một kho tàng vô cùng quí giá trong nền văn học bình dân.

Ca dao tục ngữ diễn tả nhiều khiá cạnh khác nhau của xã hội, bao gồm các đề tài hài hước, châm biếm, gia đình và trữ tình. Nhưng nhất là về trữ tình, đã được các thanh niên nam nữ thời xưa, dùng để tỏ tình, thổ lộ tình yêu thầm kín của mình với người mình yêu.

Người viết bài này không dám có hoài bảo tham khảo về Ca dao Tục ngữ. Trong phạm vi hạn hẹp của bài báo, người viết chỉ muốn cống hiến bạn đọc, một câu truyện tình thật thơ mộng của một đôi trai gái thời xưa, vừa lãng mạn, vừa chân thành, vừa mơ mộng, vừa thực tế. Họ đã dùng ca dao, tục ngữ để đối thọai trong lúc tâm tình với nhau:

Vào một buổi đẹp trời kia, có một chàng trai từ thôn Đông xuống thôn Đoài chơi, tình cờ chàng thấy một bóng hồng thấp thoáng bên bờ ao. Người đâu mà xinh đẹp lạ thường, chàng vừa hồi hộp vừa vui mừng, bèn đến gần làm quen. Để ca tụng nhan sắc mặn mà của nàng, chàng mở lời thật khéo léo:

Trúc xinh, trúc mọc bờ ao,
Em xinh, em đứng chỗ nào cũng xinh.
Trúc xinh, trúc mọc đầu đình,
Em xinh, em đứng một mình cũng xinh.

Nàng nghe xong, trong lòng tuy cảm thấy vui mừng, nhưng giả đò quay đi làm ngơ như không hay biết gì. Chàng thong thả tiến đến gần và tiếp:

Nước trong ai chẳng muốn rửa chân,
Người xinh ai không muốn đến gần mà xem.

Nghe xong, nàng mỉm cười, mắt chớp nhẹ hỏi chàng:

Bắc thang lên hái hoa vàng
Vì sao thiếp đưọc găp chàng nơi đây!?

Qua cách nói chuyện khéo léo, duyên dáng của nàng, chàng bắt đầu cảm thấy, càng nói càng yêu, càng nhìn càng mến, nên chàng lại tiếp:

Hoa thơm trồng cạnh bờ rào,
Gió Nam, gió Bắc, gió nào cũng thơm.

Thấy chàng đẹp trai ăn nói lại hoạt bát, nên nàng cũng có cảm tình với chàng, nhưng muốn chàng phải chú ý đến mình nhiều hơn nàng thỏ thẻ nói:

Thân em như thể trái chanh,
Lắt léo trên cành, nhiều kẻ ước mơ.

Chàng nghe xong hốt hoảng, sợ đã có chàng trai nào lọt được vào mắt nhung của nàng nên vội hỏi:

Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có nơi nào hay chưa!?

Hỏi xong chàng lại lo sợ, lỡ nàng lại cho biết một sự thật phũ phàng như :

Hoa thơm thơm nức cả rừng,
Ong chưa dám lượn, bướm đừng xôn xao.

Hoặc nàng lại thích:

Một mình ấm lạnh cho xong,
Hai nơi thêm nực, hai lòng thêm lo..

Nhưng may mắn thay, nàng cười thật duyên, nhìn chàng đắm đuối và trả lời:

Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Được lời như cởi tấm lòng, tim chàng như muốn nhảy múa trong lồng ngực, chàng thầm nghĩ, thật là cơ hội ngàn vàng nên chàng không thể bỏ qua, chàng tiếp liền:

Bao giờ cho gạo bén sàng,
Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh!?

Thấy nàng im lặng chưa nói gì, nên chàng tấn công thêm:

Anh là trai út ở nhà,
Anh đang kén vợ đường xa quê người,
Thấy em đẹp nói đẹp cười,
Đẹp duyên đẹp nết lại tươi răng ngà

Lối tỏ tình của chàng vừa tế nhị, vừa kín đáo, nên nàng hết sức cảm động, muốn tỏ cho chàng biết nàng cũng đã có cảm tình với chàng, nàng khéo léo tiếp rằng:

Vì dây thiên lý ngang trời
Để cho tài tử gặp người giai nhân.

Nhưng rồi nàng lại lo sợ, biết đâu chàng đã có gia đình, hoặc tim chàng đã có người làm chủ, nên nàng vội hỏi chàng :

Anh đã có vợ con chưa!?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào!?

Để cho nàng được yên lòng rằng, tim chàng vẫn còn khỏang trống để đợi nàng, nên chàng nhìn nàng thật đắm đuối và nói với nàng rằng:

Mẹ em khéo đẻ em ra
Đẻ em mười bốn, đẻ ta hôm rằm.
Em ơi đừng sợ bị lầm,
Mười bốn hãy đợi trăng rằm tròn gương

Thế là đôi trai tài gái sắc, yêu nhau vì nết trong nhau vì tài, họ đã bắt đầu cảm thấy, gần thì yêu, xa thì nhớ, nên chàng mới cầm tay nàng nói rằng:

Mình về, mình nhớ ta chăng,
Ta về ta nhớ, hàm răng mình cười.
Nàng cũng âu yếm nhìn chàng mà nói rằng:
Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.

Và:

Uớc gì anh hóa ra hoa,
Để em nâng lấy rồi mà cài khăn.

Tình yêu càng ngày càng đậm đà, bệnh tương tư của chàng càng ngày càng nặng thêm, nên chàng đã tâm sự với nàng:

Lá này gọi lá soan đào,
Tương tư gọi nó thế nào hở em!?
Lá khoai anh ngỡ lá sen,
Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn anh khêu.

Và một khi đã quá yêu, chàng thường lo lắng vẩn vơ:

Xin đừng ra dạ Bắc Nam,
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.

Nàng thấy chàng lo lắng bèn trấn an:

Đôi ta như ruợu với men
Đang say ngây ngất ai gièm cho xa.

Tình yêu càng đậm đà, nỗi nhớ nhung càng chồng chất, nhiều lúc chàng nghĩ:

Dù ai cho bạc cho vàng
Chẳng bằng trông thấy mặt nàng hôm nay.

Và nàng thì cũng mơ ước:

Dù ai cho nhẫn đeo tay
Chẳng bằng trông thấy chàng ngay bây giờ.

Tình yêu đã đến lúc chín mùi, chàng cần phải cưới nàng, không thể kéo dài thêm được nữa, nên một hôm chàng dọ ý nàng:

Đôi ta như cúc với khuy,
Nhu kim với chỉ may đi cho rồi.

Nàng cũng muốn tỏ cho chàng biết là nàng cũng mong muốn như thế:

Đôi ta như vợ với chồng
Chỉ hiềm một nỗi tơ hồng chưa se.

Nói là nói vậy, nhưng nàng vẫn còn một chút lo ngại cho tương lai:

Nghe anh được lúc bây giờ
Mai sau trứng nước con thơ ai nhìn!?

Chàng muốn tỏ cho nàng biết, chàng là người chung thủy, nên chàng tiếp:

Yêu em tâm trí hao mòn
Yêu em đến thác vẫn còn yêu em.

Chàng cũng muốn nàng phải hứa với chàng những lời gắn bó, vì thế nàng đã thề với chàng rằng:

Phải chi miếu ở gần sông
Em thề một tiếng kẻo lòng anh nghi.
Trăm năm ghi tạc chữ đồng,
Dù ai thêu phựơng vẽ rồng mặc ai.

Hai người đã quá yêu nhau đã quá hiểu nhau, nhưng nàng lại lo sợ gia đình chàng không chấp thuận vì vấn đề giai cấp, môn đăng hộ đối, nên nàng mới nói với chàng:

Thiếu chi hoa lý hoa lài,
Mà anh lại chuộng hoa khoai trái mùa.

Chàng vội vàng ngắt lời:

Thương nhau bất luận giầu nghèo.
Dù cho lên ải xuống đèo cũng cam.

Và để nàng thêm an tâm chàng tiếp:

Tình thương quán cũng như nhà,
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói cao.

Nàng nghe chàng nói cũng tạm yên lòng, nên âu yếm nhìn chàng nói rằng:

Anh về thưa với mẹ thầy,
Có cho làm rể bên này hay không!?

Sau đó hai người về thưa với cha mẹ, hai bên đều được cha mẹ đồng ý, tác hợp nên họ sung sướng nói vói nhau:

Một thuyền một bến một giây,
Ngọt bùi ta hửơng đắng cay chịu cùng.

Và sau đó chẳng bao lâu thì hai người đã nên vợ nên chồng, họ sống thật hạnh phúc bên nhau. Tối tối người ta thấy chàng và nàng:

Sáng trăng trải chiếu đôi hàng,
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ./.

Ðặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao-Tục Ngữ

–Dải đất miền trung nhỏ hẹp chạy dài từ Thanh Hóa cho đến Bình Thuận. Mỗi địa phương đều có phong tục, tập quán, thổ sản khác nhau và miếng ngon vật lạ chẳng bao giờ thiếu vắng khách sành ăn lựa chọn phẩm bình.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc các loại đặc sản của miền trung đã được ông bà ta chọn lựa và truyền tụng qua nhiều thế hệ.

Nghệ An xưa nay nổi tiếng với cam Xã Ðoài, nhút Thanh Chương…

Ra đi anh nhớ Nghệ An
Nhớ Thanh Chương ngon nhút,
Nhớ Nam Ðàn thơm tương…

Vùng đầu nguồn Lam Giang còn có những đặc sản vùng cao như:

Tiếng đồn cá Mát sông Găng,
Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.

Vào đến Quảng Bình thì có các loại sơn hào hải vị, những món thượng thừa trong khoa ẩm thực:

Yến sử Vĩnh Sơn
Cửa Khổng Cửa Ròn
Nam sâm Bố Trạch
Cua gạch Quảng Khê
Sò nghêu Quán Hàu
Rượu dâu Thuận Lý…

Ðến Thừa Thiên – Huế bạn sẽ được thưởng thức các loại trái cây ngọt ngào, thơm ngon:

Quýt giấy Hương Cần
Cam đường Mỹ Lợi
Vải trắng Cung Diên
Nhãn lồng Phụng Tiên
Ðào tiên Thế Miếu
Thanh trà Nguyệt Biều
Dâu da làng Truồi
Hạt sen hồ Tịnh…

Vào xứ Quảng được thưởng thức tiếp các món:

Nem chả Hòa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam Kỳ…

Trái bòn bon hay còn gọi là trái Nam trân rất quý hiếm, ngày xưa thuộc loại tiến kinh, được nhắc nhở qua câu hò tâm tình ý nhị:

Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…

Ðất Quảng nổi tiếng với món don, ngon nhất là don Vạn Tường, bởi vậy mới có câu ca:

Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn Tường…

Xứ Quảng còn là đất mía đường:

Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại nghiền

Quảng Ngãi còn nhiều đặc sản nổi tiếng khác:

Mứt gừng Ðức Phổ
Bánh nổ Ðức Thành
Ðậu xanh Sơn Tịnh…

Hoặc:

Mạch nha Thi Phổ
Bánh nổ Thu Xà
Muốn ăn chà là
Lên núi Ðịnh Cương…

Rời Quảng Ngãi vào Bình Ðịnh quê hương của dừa:

Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

Hoặc:

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Ðịnh sợ dài đường đi…

Bình Ðịnh còn nổi tiếng một loại trái cây rừng, mà thuở xưa dùng để tiến kinh. Ðó là trái chà viên:

Quảng Nam nổi tiếng bòn bon
Chà viên Bình Ðịnh vừa ngon vừa lành
Chín mùi da vẫn còn xanh
Mùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn…

Từ Bình Ðịnh vượt đèo Cù Mông vào đất Phú Yên, nơi nổi tiếng có xoài ngon Ðá trắng:

Xoài đá trắng
Sắn phường lụa…

Phú Yên cũng là xứ đường mía, nhất là vùng La Hai, Ðồng Bò:

Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai
Ðất đỏ nhiều bắp La Hai nhiều đường

Nổi tiếng nhất phải nói đến sò huyết ở đầm Ô Loan, huyện Tuy An và cước cá ở thị xã Tuy Hòa đã được thi sĩ Tản Ðà ca tụng:

Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hàu.

Vượt đèo Cả vào đất Khánh Hòa cũng có lắm hải vị sơn hào như:

Yến xào Hòn Nội
Vịt lộn Ninh Hòa
Tôm hùm Ðình Ba
Nai khô Diên Khánh
Cá tràu Võ Cạnh
Sò huyết Thủy Triều…

Vào Phan Rí, Phan Thiết là quê hương của cá, mắm ngon được cả nước truyền tụng. Nhờ cá mắm nhiều mà có lắm cuộc tình duyên mặn mà dí dỏm:

Cô kia bớt tóc cánh tiên
Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi
Chẳng tin giở thử ra coi
Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

Ở miền trung đất đai khô cằn, đồng bằng nhỏ hẹp, biển cả mênh mông, núi rừng trùng điệp, có lắm của ngon vật lạ hấp dẫn đối với khách sành ăn. Ðây là một trong những tiềm năng của ngành Du lịch Việt Nam.

TÌNH ĐỜI,TÌNH NGƯỜI.

Làm người phải đắn phải đo
Phải cân nặng nhẹ,phải dò nông sâu

Ai ơi chớ vội cười nhau
Ngắm mình cho tỏ trước sau hẵng cười

Thổi sáo phải biết truyền hơi
Khuyên người phải biết lựa lời mà khuyên

Đấy vàng đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý,đây sen nhị hồ

Thương thay thân phận con rùa
Lên đình đội hạc,ra chùa đội bia

Người đời ai có dại chi
Khúc sông rộng hẹp phải tuỳ khúc sông

Thế gian chuộng của chuộng công
Nào ai có chuộng người không được gì

Rượu lạt uống riết cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm

Vất vả có lúc thanh nhàn
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho

Trời có khi nắng khi mưa
Người còn khi sớm khi trưa thất thường

Chì khoe chì nặng hơn đồng
Sao chì không đúc nên cồng nên chuông

Anh hùng như thể thân lươn
Khi cuộn thì ngắn,khi vươn thì dài

Khó thì hết thảo hết ngay
Công cha cũng bỏ,nghĩa thầy cũng quên

Cách sông nên phải lụy thuyền
Nhưng đi đường liền ai phải lụy ai

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

Vai mang túi bạc kè kè
Nói quấy nói quá người nghe rần rần

Lễ lộc mang đến cửa quan
Khác nào như thể mang than đốt lò

Yêu ai đừng nói quá ưa
Ghét ai đừng nói thiếu thừa như không
Khác nào quạ muợn lông công
Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa

Làm người suy nghĩ xét ra
Cho tường gốc ngọn cho ra vắn dài

Khi ăn chẳng nhớ đến tai
Đến khi bị phỏng lấy ai mà rờ

Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Trời nào có phụ ai đâu
Siêng năng thì giàu,có chí thì nên

Mạnh vì gạo,bạo vì tiền
Có tiền có gạo là tiên trên đời

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

Làm người ăn tối,lo mai
Việc mình chớ dễ nhờ ai lo dùm

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Trời nắng rồi trời lại mưa
Chứng nào tật nấy có chừa được đâu

Sông kia có lạ gì cầu
Lòng người nham hiểm biết đâu mà dò

Bởi anh tin bợm mất bò
Tin bạn mất vợ nằm co một mình

Khi nghèo thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

Lửa cháy còn chế thêm dầu
Người thì can gián,người chêm mãi vào

Có tiền chán vạn người hầu
Có bấc có dầu chán vạn người khêu

Đất xấu trồng cây khẳng khiu
Những người thô tục nói điều phàm phu

Càng thắm thì càng dễ phai
Thoang thoảng hoa nhài thì được thơm lâu

Đố ai lặn xuống vực sâu
Mà đo miệng cá uốn câu cho vừa

Sa chân bước xuống ruộng dưa
Dù ngay đến mấy cũng ngờ kẻ gian

Con sâu làm rầu nồi canh
Một người làm đĩ xấu danh đàn bà

Giàu sang lắm kẻ tới nhà
Khó khăn cha mẹ ruột rà cũng xa

Thương người người mới thương ta
Muối kia bỏ bể mặn đà có nơi

Thay quần thay áo thay hơi
Thay dáng thay dấp tính người không thay

Đời người có một gang tay
Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang

Vàng thì thử lửa thử than
Chuông kêu thử tiếng,người ngoan thử lời

Vàng tâm xuống nước vẫn tươi
Anh hùng lâm nạn vẫn cười,vẫn vui

Chuyện mình giấu đầu hở đuôi
Chuyện xấu cho người vạch lá tìm sâu

Đàn đâu mà khảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ.gươm đâu chém ruồi

Nói lời thì giữ lấy lời
Đừng như bươm bướm đậu rồi lại bay

Thức lâu mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết là người có nhân

Nói người phải nghĩ đến thân
Sờ tay lên trán thử gần hay xa

Năm canh thì ngủ lấy ba
Hai canh lo lắng việc nhà làm ăn

Bấy lâu sao chẳng nói năng
Bây giờ năng nói thì trăng xế tà

Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng

Mặc đời danh lợi bon chen
Thuyền trôi mặt nước,ngồi xem trăng ngà

Bánh bò gầy cái hôm qua
Hôm nay đem đổ lại ra bánh bèo

Thần tiên lúc túng cũng liều
Huống chi thân cú quản điều hôi tanh

Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông thanh khẽ đánh bên thành cũng kêu

Xưa kia ăn đâu ở đâu
Bây giờ có bí chê bầu rằng hôi

Tưởng rằng đá nát thì thôi
Nào ngờ đá nát nung vôi lại nồng

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Tối trời trăng sáng hơn sao
Dẫu rằng núi lở còn cao hơn đồi

Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ là người lo toan

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người

Còn tiền chán vạn người mời
Hết tiền anh đứng trông trời thở than

Rượu ngon chẳng nệ be sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

Từ rày buộc chỉ cổ tay
Chim đậu thì bắt,chim bay thì đừng

Hơi đâu mà giận người dưng
Bắt sao cho được chim rừng đang bay

Dù ai nói đông nói tây
Thì ta vẫn vững như cây giữa rừng

Canh cải mà nấu với gừng
Không ăn thì chớ xin đừng mỉa mai

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Bạn bè chuyện vãn vài phân
Chớ đem tấc dạ mười phần tuôn ra

Tằm vương tơ,nhện cũng vương tơ
Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm

Hoa sen mọc bãi cát lầm
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen

Muốn trong nước phải đánh phèn
Mua phèn phải tốn đồng tiền mới trong

Củi mục bà để trong nương
Hễ ai hỏi đến trầm hương của bà

Hoài lời nói kẻ vô tri
Một trăm gánh chì đúc chẳng được chuông

Chim khôn gìn giữ bộ lông
Người khôn khi nói cũng không dậm lời

Khó khăn đắp đổi lần hồi
Giàu sang chẳng lẽ chỉ ngồi ăn không

Thứ nhứt sợ kẻ anh hùng
Thứ nhì sợ kẻ bần cùng cố thây

Anh đây như thể lão chài
Vực sâu anh thả lưới,bãi chài anh buông câu

Có trầu mà chẳng có cau
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm

Chữ nhẫn là chữ tượng vàng
Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu

Ai ơi !Chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành

Cạn thì cuộn áo xăn quần
Sâu thì phải dấn cả thân ướt đầm

Xuống ghe lựa chỗ mà ngồi
Chèo nghiêng nước đổ bạn ngồi phía mô

Cá khôn chẳng núp bóng dừa
Gái khôn chẳng thể lê la nhà người

Người khôn nói ít làm nhiều
Còn như người dại lắm điều điếc tai

Chớ nên trông đợi rủi may
Cứ tin vào ở chân tay sức người

Đời người kể được bao lâu
Công danh bánh vẽ,sang giàu chiêm bao

Khi yêu quạt ấm cũng cho
Khi ghét thì cái quạt mo cũng đòi

Chăm chăm chỉ biết véo người
Ai mà véo lại rụng rời chân tay

Rế rách cũng đỡ phỏng tay
Lư đồng hết sáng cũng vương mùi trầm

Nước lên thì nước lại ròng
Dễ gì bắt được con còng trong hang

Bề trên mà biết bao dung
Thì trăm kẻ dưới hết lòng mến yêu

Tưởng rằng củi mục dễ đun
Ngờ đâu củi mục khói um cả nhà

Gẫm xem sự thế thăng trầm
Xưa ông mặt lớn,nay thằng tay trơn

Đã lâu mới gặp bạn quen
Cũng bằng nấu cháo đậu đen xanh lòng

Thử xem thế sự thăng trầm
Xưa ngơi gác tía,nay nằm chòi tranh.

Nước dưới sông hết trong thì đục
Vận người đời lúc nhục,lúc vinh.
(Ca dao-st)

Ca Dao và Hình Ảnh Quê Nhà

Cho em trở lại đường xưa
Để em tìm lại gốc dừa cạnh ao
Lời anh âu yếm chiều nào
Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm
Rượu Hồng Ðào chưa uống đã say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo”.

“Quê tôi có gió bốn mùa,
Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm.
Chuông hôm gió sớm trăng Rằm,
Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi.
Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng bỏ gió chao ôi bỏ chùa”.

Đố ai lượm đá quăng trời,
Đan gàu tát biển ghẹo người cung trăng.
Đừng thấy miếu rách mà khinh,
Miếu rách mặc miếu, thần linh hãy còn.
Được mùa chê gạo vô hơi,
Mất mùa ăm cám, trời ơi, hỡi trời.

Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ.
Ruộng ai thì nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy gặp đừng chờ uổng công.

Công anh chẻ nứa đan bồ
Con chị đi mất, anh vồ con em
Công anh rọc lá gói nem
Con chị đi mất, con em trốn chồng

Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

Cau già dao bén thì ngon
Người già trang điểm phấn son cũng già

Càng già càng dẻo càng dai
Càng gãy chân chõng, càng sai chân giường

Đi chùa lạy Phật cầu chồng
Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn
Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

Mưa xuân, lác đác vườn đào
Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa
Ai làm gió táp, mưa sa
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn.

Đàn bà nói có là không
Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

Đàn bà tốt tóc thì sang
Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

Cái cò là cái cò quằm,
Mày hay đánh vợ mày nằm với ai ?
Có đánh thì đánh sớm mai,
Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm.

Tốt duyên lấy được vợ già,
Vừa sạch cửa nhà, vừa rẻo cơm canh.
Hoài hơi mà lấy trẻ ranh,
Ăn vụng đầu bếp, ị quanh đầu nhà

Đàn ông kia hỡi đàn ông!
Nửa đêm trở dậy cắm chông đàn bà.
Đàn bà kia hỡi đàn bà!
Nửa đêm trở dậy rút ruột già đàn ông.

Vương, Phụ, Mẫu, Phu, Thê
Ngồi lại một thuyền,
Gặp trận giông chìm xuống.
Em hỏi thăm chàng sẽ vớt ai ?

Đứng giữa trời anh nói không sai.
Vương anh đội trên đầu,
Phụ mẫu anh gánh hai vai,
Còn Hiền Thê ơi, lại đây anh cõng.
Còn hai tay, anh vớt thuyền.

Còn trời còn nước còn non,
Còn cô bán rượu tôi còn say sưa

VẦN CA DAO BẤT HỦ

“Giá như ngày ấy…”

Đã là người dân nước Việt mến yêu mấy ai mà không biết đến bài ca dao sau:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biêt đâu mà gỡ
Chim vào lồng , biết thuở nào ra”.

Đoạn thơ trên tràn đầy sự tiếc nuối xót xa, thoảng trong đó vời vợi những lời oán trách nhẹ nhàng nhưng không kém phần day dứt. Những người đã từng trải thường bị một tâm lý gây xúc động khá mạnh, đó là sự nuối tiếc những sự việc đã qua. Thời gian không bao giờ quay trở lại. Chẳng có sức mạnh nào có thể tái tạo lại được những ngày xưa. Mà nếu có thể, thì việc đó đâu còn được gọi là thuở ban đầu? Nên cái nỗi buồn “giá như ngày ấy” luôn luôn tồn tại.

Một ngày nào đó người con gái đã ngậm ngùi thầm kể với người mình yêu:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”

Ngay mờ đầu tâm sự đã gợi lên một sự phi lý như chính cuộc đời lỡ dở của nàng. Nàng muốn hái hoa , nhưng sao chẳng dễ dàng! Nàng phải trèo lên để hái hoa mãi trên cây bưởi đầy gai góc, đến khi trở xuống vườn cà những tưởng hái bông cà màu tim tím nhưng hóa ra lại là hái nụ tầm xuân xanh biếc. Ôi nàng … sao thật trớ trêu!

Rồi sau đó nàng lặng lẽ ngắm nhìn nụ tầm xuân chớm nở đầy sự khêu gợi quyến rũ mà chợt nghĩ tới mình, khi buổi còn con gái hơ hớ chưa chồng và cả người bạn tình thắm thiết nồng nàn thuở ấy!

“Em có chồng anh tiếc lắm thay!”. Vâng, tiếc lắm chứ. Làm sao một người con trai đầy sức mạnh, đầy tham vọng lại không tiếc, lại không đau đớn điên người khi thấy người con gái mình hằng yêu thương lại ở trong vòng tay kẻ khác.

Để lột tả một cách mạnh mẽ tâm trạng, ở đây vần thơ đột ngột chuyển hướng từ thể lục bát về thể 7 chữ được gieo vần thanh trắc; giữa câu và ở cuối câu: “biếc” và “tiếc” tạo ra những âm thanh mạnh, gắt và cao trong cái giai điệu vốn bình bình trầm lặng của câu thơ lục bát (bài thơ này không hẳn là thể song thất lục bát bởi vì có những bốn câu lục bát tiếp theo).

Sao quá cay chua và thất vọng vậy? Chỉ vỏn vẹn có mỗi ba đồng thôi, số tiền này đâu có lớn, ấy thế mà nó đổi được cả cuộc đời, đổi cả được bầu trời hạnh phúc?

“Ba đồng một mớ trầu cay
sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?”

Vụng dại quá, tệ hại quá và đau đớn xé lòng biết bao. Có lúc chúng mình đã từng kề sát bên nhau tưởng có thể xiết được lấy tay nhau cùng sánh bước, ấy thế mà ai quá chậm chạp, ai quá do dự nên để rồi dưới gầm trời này, chúng mình mãi mãi xa nhau, không thể nào tìm được, không bao giờ chuộc được, định mệnh khắc nghiệt biết bao . Nỗi trường hận “giá như ngày ấy…” chính là ở chỗ này!

Anh xa rồi như một cái bóng thoảng qua, còn em chơi vơi ở lại, không gian, thời gian chẳng phải của mình, đời tối xẫm màu vô nghĩa, với phận “chim chậu cá lồng” để chờ đợi sự kết thúc một kiếp người… Vần thơ đột ngột quay trở về và cũng bỏ lửng vội vàng ngay tại đó với kiểu bảy chữ cùng sự gieo vần thanh trắc đầy hiểm hóc gay cấn là cách tối ưu để lột tả một định mệnh xót xa của một con người:

“Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra”.

Bài ca dao trên quả thật là bất hủ bởi tính nghệ thuật và sức đồng cảm mạnh mẽ, lay động biết bao tâm hồn cô quạnh ở trên cõi đời này. Bởi một lẽ, trong suốt cuộc đời dài dằng dặc,nỗi trắc ẩn tiếc nuối lớn hay nhỏ đâu phải của riêng ai? Bởi vì nhân quần này, đã mấy ai không nếm vào vị đắng của tình yêu! Bài ca dao sẽ sống mãi như một viên ngọc quý được giữ gìn bao bọc trong cõi thẳm sâu tâm hồn và những hoài ước của chúng ta.

THÁCH CƯỚI
cưới em chi cần dăm sợi bún với và hạt xôi.
cưới em còn nữa anh ơi.
có một đĩa đậu với hai môi rau cần.
có xa xịch lại cho gần.
nhà em thách cưới có ngần ấy thôi
nếu mà khó quá anh ơi
để em bớt lại một môi rau cần

Em đang dệt chiếu hồi văn
Nghe anh có vợ em quăng con chuồi
Em đang bắc nước chờ sôi
Nghe anh có vợ quăng nồi đá vung
Em đang vút nếp thổi xôi
Nghe anh có vợ thúng trôi nếp chìm….

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Một người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lòng
Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân
…..

Tối qua trăng sáng tờ mờ
Em đi gánh nước tình cờ gặp anh.
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu,
Trầu này têm những vôi tàu,
Ở giữa đệm quế, dưới đầu thơm cay.
Mời anh xơi miếng trầu này
Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên vợ nên chồng,
Thì anh cũng biết tấm lòng cho em.

Gặp nhau ăn một miếng trầu
Gọi là nghiã cũ về sau mà chào
Miếng trầu đã nặng là bao
Muốn cho đông liễu tây đào là hơn!
Miếng trầu kể hết nguồn cơn
Muốn cho đây đãy duyên nào hợp duyên

Trầu nầy trầu quế, trầu hầu
Trầu loan trầu phượng, trầu tôi lấy mình
Trầu nầy, trầu nghiã, trầu mình lấy nhau
Trầu nầy têm tối hôm qua
Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng
Trầu nầy không phải trầu hàng
Không bùa không thuốc sao chàng không ăn
Hay là chê khó chê khăn
Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.

Ví dặm Nghệ Tĩnh

Thương anh lắm anh ơi
Nhớ anh lắm anh ơi
Thương đáo để khúc nôi
Nhớ ngao ngán trần đời
Bưng cơm ăn nỏ được
Bưng nước uống không trôi
Cầm lấy đọi đọi rớt (đọi= bát)
Cầm lấy đụa đụa rơi (đụa= đũa)
Ra ngong đất ngó trời
Ra ngong ngược ngó xuôi
Cha mới hỏi:
“Mần răng rứa con ơi?”
Mẹ lại hỏi:
“Mần răng rứa con ơi?”
Tui mới lặng lặng trả lời:
“Vì thương anh vô kể
Mà thiếp nhớ chàng vô kể”

Yêu là thế, thế mà rồi cô gái lại dặn dò chàng trai thế này:

Thiếp thuơng chàng đừng cho ai biết
Chàng thuơng thiếp đừng để ai hay
Rồi ra miệng thế lắt lay
Cực chàng chín rưỡi, thiếp đây khổ mười”

Thế mới biết, lễ giáo khắt khe lắm, nhưng các đôi tình nhân vẫn yêu nhau tha thiết bạn ạ.

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ

– Người già trái chứng
– Người già đái tật
– Miếng ăn là miếng nhục
– Lạt mềm buộc chặt
– Quạ nào quạ chẳng đen đầu
– Quạ không bao giờ mổ mắt quạ
– Không ai nắm tay thâu ngày đến tối
– Không ai duỗi tay thâu ngày đến sáng
– Nhân vô thập toàn
– Ai uốn câu cho vừa miệng cá
– Gà mái không gáy
– Gió thổi là chổi trời

– Cọ già là bà lim

– Bàng già là bà lim

– Tre già là bà lim

– Thật thà là cha quỷ quái

– Cờ bạc là bác thằng bần

– Cơm tẻ là mẹ ruột

– Sạch sẽ là mẹ sức khỏe

– Thất bại là mẹ thành công

– Lúa ré là mẹ lúa chiêm

– Rau bợ là vợ canh cua

– Gió đông là chồng lúa chiêm

– Khách đến nhà không gà thì vịt

– Sói đến nhà không mất gà cũng mất vịt

– Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh

– Ruốc tháng hai, chẳng khai thì thối

– Họ nhà khoai, không ngứa cũng lăn tăn

– Mống đông vồng tây, không mưa dây cũng bão dật

– Chớp thừng, chớp chão, không bão thì mưa

– Không mưa thì gió, khi mặt trời đổ như son

– Nứa trôi sông chẳng dập thì gãy, gái chồng rẫy chẳng chứng nọ cũng tật kia

– Trống tháng bảy, không hội thì chay

– Tháng sáu heo may, chẳng mưa thì bão

– Thâm đông, hồng tây, dựng may, chẳng mưa dây cũng bão giật

– Cơm ăn vào bụng chẳng sớm thì trưa, nón đội trên đầu chẳng mưa thì nắng

– Đời ông cho chí đời cha, mây ráng Sơn Trà chẳng gió thì mưa

– Mấy đời chó sủa ngõ không, chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày

– Thủ thỉ nhăng quỷ ma
– Tẩm ngẩm mà đấm chết voi

– No bụng nhưng đói con mắt

– Cũ người, mới ta

– Làm thần đất ta, làm ma đất người

– Cơm treo mèo nhịn đói

– Của rẻ là của ôi, của đầy nồi là của không ngon

– Hiền trước mặt, làm giặc sau lưng

– Khôn nhà, dại chợ

– Già đời còn mang tơi chữa cháy

– Được tiếng lại được miếng

– Khôn với vợ, dại với người dưng

– Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi

– Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng

– Có tiếng mà chẳng có miếng

– Có bột chẳng gột nên hồ

– Có vỏ mà nỏ có ruột

– Hữu danh vô thực

– Dao sắc không chặt được chuôi

– Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con

– Người lười nhưng đất không lười

– Không có tay mà hay nói

– Không có tinh lại có tướng

– Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời

– Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời

– Ai giàu ba họ, ai khó ba đời

– Không ai khen đám cưới, không ai cười đám ma

– Không ai nuôi chó một nhà, nuôi gà một sân

– Ở hiền gặp lành

– Môi hở răng lạnh

– Tay nhọ mặt cũng nhọ

– Leo cao ngã đau

– Trâu ác trâu dạc sừng

– Trâu chậm uống nước đục

– Đi đêm có ngày gặp ma

– Đất lành chim đậu

– Kính lão đắc thọ

– Đi một ngày đàng học một sàng khôn

– Xấu thiếp hổ chàng

– Năng nhặt chặt bị

– Quan to vạ cả

– Quan cả vạ đau

– Đục nước béo cò

– Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ

– Có công mài sắt, có ngày nên kim

– Miệng ăn núi lở

– Tham thì thâm

– Túng thì tính

– Bút sa gà chết

– Được đằng chân lân đằng đầu

– Được voi đòi tiên

– Hết xôi rồi việc

– Đắt chỗ buôn, buồn chỗ bán

– Được lòng ta, xót xa lòng người

– Có mới nới cũ

– Cả cây nậy buồng

– Cả vốn lớn lãi

– Ăn lắm trả nhiều

– Ăn mặn khát nước

– Tửu nhập ngôn xuất

– Tức nước vỡ bờ

– Tre già măng mọc

– Vợ là ông thì chồng là tớ

– Thẳng da bụng chùng da mặt

– Tốt vay dày nợ

– Bé trộm gà, cả trộm trâu

– Đứa dại cởi truồng, thằng khôn xấu mặt

– To đầu khó chui

– Muốn ăn cá phải thả câu

– Giỏ nhà ai quai nhà nấy

– Cha nào con nấy

– Đâm lao phải theo lao

– Trâu buộc ghét trâu ăn

– Có nước có cá

– Sinh sự, sự sinh

– Ngoài đồng vàng mơ trong nhà mờ mắt

– Lúa bóng vang, vàng con mắt

– Một người làm quan thì sang cả họ

– Một người làm quan cả họ được nhờ

– Không ưa đổ thừa cho thối

– Không ưa thì dưa có dòi

– Không ưa dổ thừa cho xấu

– Không lấy thì quấy cho hôi

– Không đau làm giàu mấy nỗi

– Không đắp bờ thì trơ chân lúa

– Không con héo hon một đời

– Không được ăn thì đạp đổ

– Chẳng lo trước ắt lụy sau

– Không trâu bắt chó đi cày

– Không trâu bắt dê đi dầm

– Không chó bắt nèo ăn cứt

– Không voi lấy bò làm lớn

– Không có cá lấy rau má làm trọng

– Có sừng thì đừng hàm trên

– Có sừng thì đừng có nanh

– Đất xấu vắt chẳng nên nồi

– Của ngon, không đến mẹ con mày

– Cây ngay không sợ chết đứng

– Phụ vợ không gặp vợ

– Không đẻ không đau

– Không làm không tiếc

– Không có lửa sao có khói

– Không có bột sao gột nên hồ

– Không có mây sao có mưa

– Không làm thì hàm không động

– Không bóp cổ thì chẳng lè lưỡi

– Không đồng chẳng mong được kiện

– Không mà cả trả không hết

– Không thẳng tay gàu, nước đâu đến ruộng

– Không vào hang hổ sao bắt được hổ

– Không thầy đố mày làm nên

– Không có cha mẹ ai ở lỗ nẻ mà lên

– Vô tửu bất thành lễ

– Vô vọng bất thành quan

– Vô tiểu nhân bất thành quân tử

– Bất học vô thuật

– Được ăn, được nói, được gói mang về

– Cơm ăn, tiền lấy, giấy trả quan

– Ráng mỡ gà, có nhà thì chống

– Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa

– Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa

– Xấu như ma, vinh hoa cũng đẹp

– Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên

– Bao giờ đom đóm bay ra, hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng

– Bé con nhà bác, lớn xác con nhà chú

– To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn

– Mùa bớt ra, chiêm tra vào

– Mèo già hóa cáo, chuột lão hoa dơi

– Đói ăn rau, đau uống thuốc

– Khôn quảng đại, dại tham lam

– Đói ăn vụng, túng làm liều

– Để một thì giàu, chia nhau thì khó

– Đểu thì mới có, phũ* như chó mới giàu (* độc ác, tàn nhẫn)

– Ở chọn nơi, chơi chọn bạn

– Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon

– Ở bầu thì trong, ở ống thì dài

– Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

– Trẻ cậy cha, già cậy con

– Già dọc thì sang, già ngang đổ vào

– Khôn nhờ, dại chịu

– Khôn ra miệng, dại ra tay

– Chết trước được mồ mả, chết sau nằm ngả nằm nghiêng

– Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào

– Chó treo, mèo đậy

– Mềm nắn, rắn buông

– Kiện gian, bàn ngay

– Ăn vóc, học hay

– Được mùa cau thì đau mùa lúa, được mùa lúa thì úa mùa cau

– Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo

– Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong

– Đẹp như tiên không tiền cũng ế

– Sắc như mác không bạc cũng cùn

– Nhà không móng như bóng không người

– Cơm không rau như đau không thuốc

– Quân không tướng như hổ không đầu

– Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư

– Thuyền theo lái, gái theo chồng

– Đường đi hay tối, nói dối hay cùng

– Lòng vả cũng như lòng sung

– Lòng bí cũng như ruột bầu

– Lòng trâu cũng như dạ bò

– Cơm có bữa, chợ có chiều

– Buôn có bạn, bán có phường

– Củi mục khó đun, chổi cùn khó quét

– Trai xóm trại, gái hàng cơm

– Trai lính tuần, lính thú, gái cửa phủ, cửa đồn

– Thịt trâu không tỏi, ăn gỏi không mơ

– Làm ruộng có năm, nuôi tằm có lứa

– Quân vô tướng như hổ vô đầu

– Nam vô tửu như kỳ vô phong

– Ruộng không phân như thân không của

– Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm

– Gái có chồng như rồng có mây

– Gái không chồng như cối xay chết ngõng

– Con có cha như nhà có nóc

– Cơm có canh như tu hành có vãi

– Cơm vào dạ như vạ vào thân

– Trai có vợ như rợ buộc chân

– Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con

– Hùm chết để da, người ta chết để tiếng

– Gái gặp hơi trai như thài lài gặp cứt chó

– Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống

– Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ

– Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai

– Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai

– Củi khô dễ nấu, chồng xấu dễ xài

– Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái chẳng hay ghen chồng

– Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng

– Thuyền không lái, gái không chồng

– Thuyền theo lái, gái theo chồng

– Trai chở đò ngang, gái bán hàng trầu miếng

– Trâu kén cỏ trâu gầy, trò kén thầy trò dốt

– Một năn chăn tằm bằng ba năm làm ruộng

– Một năm ăn trộm bằng ba năm làm

– Một sào nhà bằng ba sào đồng

– Tằm đói một bữa bằng tằn đói nửa năm

– Một quả cà bằng ba thang thuốc

– Một tiền gà bằng ba tiền thóc

– Một lần sa bằng ba lần đẻ

– Một mẹ già bằng ba then cửa

– Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp

– Một miếng khi đói bằng một gói khi no

– Một mẹ già bằng ba đứa ở

– Một đêm nằm bằng năm ở

– Một người lo bằng kho người làm

– Một bát cơm rang bằng một sàng cơm nấu

– Một điều nhịn bằng chín điều lành

– Một người nhà bằng ba người mượn

– Một lạy sống bằng đống lạy chết

– Một thời loạn bằng vạn thời bình

– Một ngày dương gian bằng ngàn ngày âm phủ

– Một nạm gió bằng một bó chèo

– Trôn nồi năm bằng cằm niêu mốt

– Một qua tiền công không bằng một đồng tiền thưởng

– Ba đấm không bằng một đạp

– Một trăm ông chú không bằng một mụ bà cô

– Một trăm đám cưới không bằng hàm dưới cá trê

– Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông

– Chửi cha không bằng pha tiếng

– Trăm hay không bằng tay quen

– Một kho vàng không bằng một nang chữ

– Ruộng sâu, trâu nái, không bằng con gái đầu lòng

– Ải thâm không bằng dầm ngấu

– Vợ mới cưới không bằng đi xa về

– Một mâm cẩn xui không bằng cái mui cá mè

– Quen tay không bằng hay làm

– Quần hồ bất như độc hổ (Nhiều cáo không bằng một hổ)

– Sợ mẹ cha không bằng sợ tháng ba dài ngày

– Trăm nghe không bằng một thấy

– Ruộng đất bề bề không bằng một nghề trong tay

– Phép vua thua lệ làng

– Lệ làng hơn phép nước

– Thế vui thua tục dân

– Khôn lỏi sao bằng giỏi đàn

– Cứt cá bằng lá rau

– Yếu trâu cũng bằng khỏe bò

– Một nghề cho chín còn hơn chín nghề

– Xấu đều hơn tốt lỏi

– Sống đục sao bằng thác trong

– Dại bầy hơn khôn độc

– Ngốc đàn hơn khôn độc

– Tốt số hơn bố giàu

– Đẹp nết hơn đẹp người

– Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

– Cái nết đánh chết cái đẹp

– Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

– Một giọt máu đào hơn ao nước lã

– Rộng bụng hơn rộng nhà

– Rậm người hơn rậm của

– Xanh trong nhà hơn già ngoài đồng

– Nhất kinh kỳ, nhì phố Hiến

– Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện

– Nhất cảm phòng, nhì lòng lợn

– Nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền

– Nhất cận thị, nhị cận giang

– Nhất mẹ, nhì cha, thứ ba bà ngoại

– Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống

– Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu

– Nhất gái một con, nhì rượu ngon nửa chén

– Nhất bồ câu ra ràng, nhì bắp rang rưới mặn

– Thứ nhất đom đóm vào nhà, thứ nhì chuột túc thứ ba bông đèn

– Nhất hay chữ, nhì dữ đòn (hay chữ không bằng dữ đòn)

– Thứ nhất giặc phá, thứ nhì nhà cháy (giặc phá không bằng nhà cháy)

– Nhất có râu nhì bầu bụng

– Nhất thì nhì thục

– Nhất thủ, nhì vĩ

– Nhất vợ, nhì trời

– Nhất nhập nhoạng, nhì rạng đông

– Nhất cày ải, nhì rải phân

– Nhất bì, nhì cốt

– Nhất vợ dại, nhì cờ bạc, ba nợ đòi

– Nhất con, nhì cháu, thứ sáu người dưng

– Nhất dáng, nhì men, ba chàm, bốn vẽ

– Nhất duyên, nhì phận, tam phong thổ

– Nhất chơi tiên, nhì giỡn tiền

– Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một

– Nhất thì học sĩ, nhì thì canh nông

– Nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ rỗ

– Nhất bạch, nhì hoàng, tam khoanh, tứ đốm

– Làm phúc quá tay, ăn mày không kịp

– Khôn làm văn tế, dại làm văn bia

– Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại

– Chim khôn tiếc lông, người ngoan tiếc lời

– Năng ăn hay đói, năng nói hay lầm

– Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng

– Làm thầy thì dễ, thế chuộng thì khó

– Xa chùa vắng trống, gần chùa inh tai

– Đời cha vo tròn, đời con bóp bẹp

– Đẹp vàng son, ngon mật mỡ

– Một đêm nằm, một năm ở

– Khéo vá may, vụng chày cối

– Khôn ăn cái, dại uống nước

– Khôn thì ngoan, gian thì nồng

– Gươm hai lưỡi, miệng trăm hình

– Thua keo này, bày keo khác

– Được thì đùa, thua thì chịu

– Buôn gặp chầu, câu gặp chỗ

– Trước lạ sau quen

– Cũ người mới ta

– Đục nước béo cò

– Giậu đổ bìm leo

– Khôn nhà dại chợ

– Văn mình vợ người

– Tiền phú hậu bần

– Tre già măng mọc

HOA QUẢ QUA CA DAO

Hoa trắng như hoa mận,
Quả đẹp tựa quả đào,
Tên gọi mới đẹp sao,
Hát cười trong giấc ngủ ? (Câu đố Việt Nam: Quả mơ)
Có hoa có quả mới hay,
Một trăm thứ quả em nay đã từng.
Cứng thì quả ổi còn ương,
Mềm thì quả thị chín vàng đã lâu.
Ðỏ lòng thì đúng quả nâu,
Nhuộm khăn, đan áo, đẹp mầu đời ta.
Thơm thơm, mát mát quả na,
Biếu cha, biếu mẹ hơn là chén son.
Ðắng thì bồ kết bồ hòn,
Ðể ta tắm gội cho trơn mái đầu.
Ngọt thì long nhã, táo tàu,
Bưởi đường, cam, quít, lựu đào nâng niu.
Chua thì quả hạnh, quả mai,
Quả sấu, quả rọc, quả gai trái mùa.
Ðôi ta còn ngọt chửa chua,
Ðừng tham táo rụng, đừng chê khế rừng.
Thanh yên, phật thủ thơm lừng,
Quả thơm mặc quả, xin đừng quên nhau.
Bé thì quả vối, quả dâu,
Nhớn thì quả mít chia nhau mới đành.
Ðể ta chọn cá nấu canh,
Cà chua chín đỏ rấp ranh đi tìm.
Tình cờ ta gặp nhau đây,
Quả cau ta bổ, chia tay mời chào.
Ðôi ta kết nghĩa tương giao,
Nào là quả mận quả đào đong đưa.
Bùi ngùi quả ấu quả dừa,
Xanh xanh quả mướp, quả dưa, quả bầu.
Hạt tiêu cay đắng đã dầu,
Ớt kia cay đắng ra mầu xót xa.
Mặt kia mà tưới nước hoa,
Ai đem mướp đắng mà hoà mạt cưa ?
Thủy chung cho bác mẹ ưa,
Ðừng như đu đủ nắng mưa dãi dầu.
Yêu nhau đá bắc nên cầu,
Bồ quân lúc chín ra màu tốt tươi.
Hẹn chàng cho đủ mười mươi,
Thì chàng kết tóc ở đời với em.

ST !

RAU QUA CA DAO TỤC NGỮ

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè về rau
Xấc láo hỗn hào
Là rau ngành ngạnh
Trong lòng không tránh
Vốn thiệt tâm lang
Đất rộng bò ngang
Là rau muống biển
Quan đòi thầy kiện
Bình bát nấu canh
Ăn hơi tanh tanh
Là rau dấp cá
Không ba có má
Rau má có bờ
Thò tay so đo
Nó là rau nhớt
Ăn cay như ớt
Vốt thiệt rau răm
Sống tới ngàn năm
Là rau vạn thọ
Tay hay xớ rớ
Vốn thiệt rau co

Nghe vẻ nghe ve
Làng bắt chẳng cho
Chính là rau húng
Lên chùa mà cúng
Lại có hành hương
Giục giã buông cương
Là rau mã đề

ST !

Phương ngữ Nam bộ trong ca dao về tình yêu

Phương ngữ Nam Bộ là một dạng từ ngữ địa phương của vùng đất Nam bộ. Nó thể hiện cách nói, cách sử dụng từ ngữ, kiểu phát âm riêng của con người Nam bộ. Phương ngữ Nam bộ còn là nơi chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, sinh hoạt xã hội của con người và vùng đất Nam bộ.

Tìm hiểu phương ngữ Nam bộ được thể hiện qua ca dao Nam bộ là một cách nhằm khẳng định thêm tính độc đáo, sắc sảo, phong phú và đa dạng của con người Nam bộ xưa trong việc sử dụng lời ăn tiếng nói của mình.

Ca dao Nam bộ trước hết là ca dao của người Việt ở Nam bộ nên nó mang đầy đủ yếu tố của vùng đất Nam bộ, trong đó có việc sử dụng từ ngữ của con người ở đây. Sống giữa thiên nhiên hài hòa và đa dạng với rừng tràm bạt ngàn và một vùng sông nước bao la, trong lời ăn tiếng nói của con người ở đây không khỏi ảnh hưởng của các hình tượng thiên nhiên này. Cho nên, có thể nói, giàu tính hình tượng là một đặc điểm trong cách dùng từ của ca dao Nam bộ:

Chồng chèo thì vợ cũng chèo
Hai đứa cùng nghèo lại đụng với nhau.

“Đụng” ở đây là “lấy”, “lấy nhau” hay nói cho văn hoa một chút là “kết duyên” nhau. Với các từ trên, người Nam bộ có thể hoàn toàn sử dụng được, nhưng đôi khi con người ở đây không dùng những khuôn mẫu có sẵn đó, mà lại dùng từ “đụng” rất giàu hình tượng này để tạo điểm nhấn, mang sắc thái mạnh. Chính điều này đã làm phong phú thêm cho kho tàng phương ngữ Nam Bộ.

* * *

Giàu tính so sánh và cụ thể cũng là một đặc điểm của ca dao Nam bộ. Nam bộ là một vùng sông nước, có hệ thống sông ngòi chằng chịt nên hình ảnh chiếc ghe, con đò, con cá, con tôm, cần câu, cái lờ… là những vật rất quen thuộc đối với người dân nơi đây. Quen thuộc đến mức đã đi vào tâm thức của họ và được thể hiện qua lời ăn tiếng nói hằng ngày, cũng như đã âm thầm đi vào ca dao:

Thân em như cá trong lờ
Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

“Cá – lờ” là một hình tượng cụ thể, tác giả dân gian đã lấy hình tượng cụ thể này để làm đối tượng so sánh với con người, cụ thể ở đây là cô gái. Trường hợp này, ta cũng sẽ bắt gặp rất nhiều trong ca dao Nam bộ.

* * *

Một đặc điểm nữa trong việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trong ca dao Nam bộ là giàu tính cường điệu, khuếch đại. Đây là cách nói thể hiện rõ nét sự lạc quan và tính cởi mở của con người Nam bộ. Tính giàu cường điệu, khuếch đại này được con người Nam bộ sử dụng thể hiện tính chất phác, mộc mạc, độc đáo, gây được ít nhiều cảm xúc cho người đọc:

Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình
Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao huỳnh vội xếp vi.

Rõ ràng, chỉ than có một tiếng mà “nát miễu xiêu đình” thì quả là nói quá. Nhưng chính cách nói quá này mới tạo được ấn tượng, gây được cảm xúc, tạo được sự chú ý cho đối phương.

Hay để bộc lộ tình thương của mình, người Nam bộ không ngại nói thẳng, nói quá, nói cường điệu, nói khuếch đại. Họ nói cốt sao cho hết cái thương đang cháy bỏng trong lòng mình:

Anh thương em,
Thương lún, thương lụn,
Thương lột da óc,
Thương tróc da đầu,
Ngủ quên thì nhớ,
Thức dậy thì thương

* * *

Giàu tính dí dỏm, hài hước cũng là một trong những đặc điểm trong cách sử dụng từ ngữ trong ca dao Nam bộ. Ca dao Nam bộ, ngoài những cách nói cường điệu, giàu hình tượng, đôi lúc có phần thâm trầm, sâu lắng còn có những cách nói mang tính hài hước, dí dỏm. Đây là tinh thần lạc quan trong tính cách của con người Nam bộ. Chính tinh thần lạc quan này đã tiếp thêm cho họ sức mạnh trong việc chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt, với thú dữ hoành hành. Tuy là nói dí dỏm, hài hước nhưng không hẳn là một cách nói chơi, mà là có ngụ ý, ngụ tình. Đó cũng là kiểu nói: “nói chơi nhưng làm thiệt”:

Bên dưới có sông, bên trên có chợ
Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

Rõ ràng, đây là cách nói mang tính chất vừa nói chơi lại vừa nói thiệt. Bông đùa đấy nhưng cũng là thật đấy. Nếu đối phương không chịu thì bảo là “nói chơi”. Còn nếu ưng thuận thì tiếp tục lấn tới tán tỉnh. Và trong bài ca dao sau, cũng không hẳn là dí dỏm, hài hước, nói cho vui một cách đơn thuần:

Trời mưa cóc nhái chết sầu
Ễnh ương đi cưới nhái bầu không ưng
Chàng hiu đứng dựa sau lưng
khều khều móc móc cứ ưng cho rồi.

* * *

Có cách nói hài hước, dí dỏm, lại có cách nói cường điệu, khuếch đại, ca dao Nam bộ cũng có những cách nói rất giản dị, chân tình. Trong hoàn cảnh tự tình với nhau, đôi khi họ không dùng những từ hoa mỹ, không nói những từ chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, mà chỉ nói một cách mộc mạc, bình dân, cốt sao bày tỏ được lòng mình:

Anh về em nắm vạt áo em la làng
Phải bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.

Quả là mộc mạc, quả là chân tình. Trong từng câu, từng chữ không có gì khó hiểu cả, tạo được sự cảm thông và gây được cảm xúc cho người đọc.

Hay:
Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây
Qua tới đây không cưới được cô hai mày
Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở vô.

Phương ngữ Nam bộ ra đời tuy có muộn hơn so với phương ngữ của các vùng khác, nhưng không vì thế mà nó nghèo nàn, hời hợt, mà trái lại nó rất đa dạng, phong phú và sâu lắng. Nó chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán cùng tính cách của con người Nam bộ. Phương ngữ Nam bộ không chỉ đơn thuần là khẩu ngữ của người Nam Bộ mà nó đã bước vào văn học nghệ thuật với một tư thế rất đường hoàng. Những câu ca dao Nam bộ vừa dẫn trên là một minh chứng cho điều này.

Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

Thuyduongnsx tuyển chọn

1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu
Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

2. Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi
Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

4. Đường về đêm tối canh thâu
Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa
hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng
trâu đá gà què cẳng con trâu

7. Ai nói chăn trâu là khổ??
Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

8. Dù ai buôn đâu bán đâu,
Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,
Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.
Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,
Thức mà giữ lấy con trâu con bò.
Nằm đây nào đã ngủ cho,
Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

10. Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.
Ở đời khôn khéo chi đâu,
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

11. Chăn trâu chả biết mặt trâu
Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

14. Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia.
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông,
thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.
“Con trâu là đầu cơ nghiệp

15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

16. Trên trời có đám mây xanh (4)
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì ta lấy được nàng
Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu
Thanh Hóa cung đốn trầu cau
Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò
Phú Thọ quạt nước hỏa lò
Hải Dương rọc lá giã giò gói nem
Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền
Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi
An Giang gánh đá nung vôi
Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè
Quảng Bình Hà Tĩnh thuyền ghe
Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu
Anh mời khắp nước chư hầu
Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang
Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng
Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

17. Trời mưa trời gió đùng đùng
Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
Gánh về trồng bí trồng bàu
Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

18. Nam mô Bồ Tát
Chẻ lạt đứt tay
Đi cày trâu húc
Đi súc phải cọc
Đi học thày đánh
Đi gánh đau vai
Nằm dài nhịn đói

19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục
Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông
Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

21. Thất là mất
Tồn là còn
Tử là con
Tôn là cháu
Lục là sáu
Tam là ba
Gia là nhà
Quốc là nước
Tiền là trước
Hậu là sau
Ngưu là trâu
Mã là ngựa

22. Trai thì cày ruộng khiển trâu
Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

23. Trăm năm còn có gì đâu
Miếng trầu liền với con trâu một vần

24. Trâu bò được ngày phá đỗ
Con cháu được ngày giỗ ông

25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

27. Trâu kia kén cỏ bờ ao
Anh kia không vợ đời nào có con
Người ta con trước, con sau
Thân anh không vợ như cau không buồng
Cau không buồng như tuồng cau đực
Trai không vợ cực lắm anh ơi
Người ta đi đón, về đôi
Thân anh đi lẻ, về loi một mình

28. Của chua ai nấy cũng thèm
Em cho chị mượn chồng em vài ngày
Chồng em đâu phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài
Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

30. Dù ai buôn bán nơi đâu
Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu
Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

32. Thương nhau vì nợ vì duyên
Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần
Làm thân con nhện mấy lần vương tơ
Về đâu trong đục mà chờ
Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu
Số em giàu, lấy khó cũng giàu
Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo
Phải duyên phải kiếp thì theo
Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

34. Chẳng qua số phận long đong
Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

35. Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.
Ai ơi! bưng bát cơm đầy
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

36. Ru Con

Bao giờ cho đến tháng ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.
Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;
Con gà, be rượu nuốt người lao đao.
Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Lúa mạ nhảy lên ăn bò;
Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.
Gà con đuổi bắt diều hâu;
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.
————
Chú thích:
(1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn
(2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước
(3) cỏ lác : thứ cỏ xấu
—————
37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.
Vợ dại thì đẻ con khôn,
Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

38. Trâu chậm thời anh bán đi,
Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

39. Trâu anh con cưỡi con dòng,
Có con đi trước lòng thòng theo sau.

40. Trâu anh con cưỡi con dòng,
Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

42. Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia không vợ đời nào có con.

43. Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,
Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

45. Em như ngọn cỏ phất phơ
Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

46. Mình rằng mình quyết lấy ta
Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này
Hăm ba nay đã đến ngày
Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng
Tháng giêng năm mới chưa nên
Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai
Tháng hai có đỗ có khoai
Ta lại vật nài cho đến tháng tư
Tháng tư ngày chẳn tháng dư
Ta lại chần chừ cho đến tháng năm
Tháng năm là tháng trâu đầm
Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên
Tháng sáu lo chửa kịp tiền
Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu
Tháng bảy là tháng mưa ngâu
Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu
Tháng tám là tháng trăng thu
Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi
Tháng chín là tháng mưa rươi
Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông
Quanh đi quẩn lại em đã có chồng
Như chim trong lồng, như cá cắn câu

47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,
Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.
Có cưới thì cưới con trâu,
Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

48. Ông giẳng ông giăng,
Xuống chơi với tôi,
Có bầu có bạn,
Có ván cơm xôi,
Có nồi cơm nếp,
Có nệp bánh chưng,
Có lưng hũ rượu,
Có chiếu bám đu,
Thằng cu xí-xóa,
Bắt trai bỏ giỏ,
Cái đỏ ẵm em,
Đi xem đánh cá,
Có rá vo gạo,
Có gáo múc nước,
Có lược chải đầu,
Có trâu cày ruộng,
Có muống thả ao,
Ông sao trên trời.
(Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

49.Bước sang tháng sáu giá chân,
Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.
Con chuột kéo cầy lồi lồi,
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.
Vườn rộng thì thả rau rong.
Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.
Đàn bò đi tắm đến trưa,
Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.
Voi kia nằm ở gặm giường,
Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.
Chuồn kia thấy cám liền ăn,
Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.
Trời mưa cho mối bắt gà,
Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.
Lươn nằm cho trúm bò vào,
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Thóc giống cắn chuột trong bồ,
Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.
Chim chích cắn cổ diều hâu,
Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.
Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.
Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.
Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.
Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.
Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.
Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.
Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

50. Nam mô bồ tát,
Chẻ lạt đứt tay,
Đi cày trâu húc,
Đi xúc phải cọc,
Đi học thầy đánh,
Đi gánh đau vai,
Nằm dài nhịn đói.

51. Con kiến mày kiện củ khoai,
Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.
Nhà tao chín đụn mười trâu,
Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

52. Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

55. Anh về bán ruộng cây da
Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi
Số phận em giao phó cho trời xanh
Lấy anh em không lấy,
Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ
Vốn em cũng chẳng bơ thờ
Em đã hằng chọn trong lóng đục,
Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên
Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,
Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm
Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,
Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc
Em muốn lấy chú thợ mộc,
Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà
Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,
Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt
Em muốn lấy người hạ bạc,
Nhưng lại sợ mang lưới mang chài
Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,
Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới
Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,
Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm
Bằng lấy anh đặt rượu làm men,
Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi
Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,
Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn
Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,
Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví
Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,
Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng
Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,
Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng
Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,
Nhưng lại sợ việc trống việc gông
Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,
Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy
Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,
Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan
Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,
Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi
Em muốn lấy anh hát bè hát bội,
Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng
Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,
Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…
Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra
Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn
So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học
Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền
Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)
Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

57. Hút sách là chuyện chẳng lành
Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Cả ba việc ấy đều là khó thay.

59. Mười năm cắp sách theo thày
Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,
Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.
Đố con gì? (Con trâu)

61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi
Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày
Ai mà giã gạo ba chày
Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng
Sẵn tiền mua bạc mua vàng
Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh
Sáng trời chàng mới tập binh
Em ngồi vò võ, một mình em lo
Ruộng nương không ai cày cho
Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!
Ruộng người cày cấy xôn xao
Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng
Người ta có vợ có chồng
Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui
Nhà ta chỉ có em thôi
Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo
62.Ai ơi uống rượu thì say
Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.
63.Anh đánh thì tôi chịu đòn
Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa
Anh đánh thì tôi xin thưa
Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu
Ăn quen chừa được chẳng lâu
Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng
64. Ba vợ bảy tám nàng hầu
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.
65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng
66.Anh em bất nghĩa chi khèo
Anh dữ như mèo tôi lại như trâu
67. Bé ăn trộm gà
Già ăn trộm trâu
Lâu nữa làm giặc
68. Cầm trâu cầm áo cầm khăn
Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !
69. Cái bống mặc xống ngang chân
Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi
Trèo lên trái núi mà coi
Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng
Túi vóc mà thêu chỉ hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi
Một mai chồng đỗ, vinh quy
Võng anh đi trước, em thì võng sau
Tàn quạt, hương án theo hầu
Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!
70.Cái kiến mà kiện củ khoai
Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu
Nhà tao chín đụn mười trâu
Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân
Cầu nầy là cầu ái ân
Một trăm con gái rửa chân cầu nầy
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh
Nhà anh có một cây chanh
Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa
Nhà anh có một mụ già
Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên
Ăn cỗ khì đòi ngồi trên
Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi
Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai
Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc
Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi
Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú
Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu
Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…
(hình như vẫn còn tiếp thì phải)

72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu
Tham vì ông lão tốt râu mà hiền
Chẳng tham ruộng cả ao liền
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.
Chẳng tham nhà ngói ba tòa
Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

73.Chồng dữ thì em mới rầu
Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi
Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi (Chọn trâu)
75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày (Chọn trâu)

77.Chết lỗ chân trâu

78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

79.Có xa dịch lại cho gần
Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi
Hay là nặng lắm anh ơi!
Để em bớt lại một môi rau cần.
Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.
Dẫn trâu sợ họ máu hàn
Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

80. Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu
Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

82.Con tằm nó ăn lá dâu
Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại
Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

84.Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

85.Đàn đâu mà gảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

86.Em thì canh cửi việc nhà
Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng
Trước là vinh hiển tổ đường
Bõ công đèn sách lưu hương con nhà
Rước vinh quy về nhà bái tổ
Ngả trâu bò làm lễ tế vua
Họ hàng ăn uống say sưa
Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

87.Dưa gang một chạp thì trồng
Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo
Tháng hai đi tậu trâu bò
cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

88.Được voi to trâu bò chẳng kể
Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa
Một lời đã trót nói ra
Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

89.Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Một người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lòng
Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát
Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc
Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh
Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

91. Vợ bé nghé con
Sẩy đàn tan nghé

Hòn đá cheo leo,
Con trâu trèo, con trâu trợn
Con ngựa trèo, con ngựa đổ.
Anh thương em lao khổ
Tận cổ chí kim,
Anh thương em khó kiếm khôn tìm.
Cây kim luồn qua sợi chỉ,
Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,
Nên hay không nên, anh ở em về,
Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

92.Lạc đường nắm đuôi chó
Lạc ngõ nắm đuôi trâu

93.Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày
Ai ơi! bưng bát cơm đầy
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ
Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng
Một huyền hai lái chẳng xong
Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

95.Lộn con toán bán con trâu

96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng
Những lời anh nói cho lòng em say
Một trâu anh sắm đôi cày
Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!
Chàng ơi! chàng cho em ra
Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

97.Một rằng mình quyết lấy ta
Ta về bán cửa bán nhà mà đi
Ta về bán núi Ba Vì
Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu
Ta về bán hết ngựa trâu
Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung
Bán ba mươi sáu Thổ công
Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân
Bán từ giờ Ngọ giờ Dần
Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi
Ta về bán cả que cời
Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn
Ta về bán trống bán kèn
Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

98.Nghé hành nghé hẹ
Có khôn theo mẹ
Có khéo theo đàn
Chớ có chạy quàng
Có ngày lạc mẹ
Việc nhẹ phần con
Kéo nỉ kéo non
Kéo đến quanh tròn
Mẹ con ta nghỉ

99.Trăm năm cơ hội tình cờ,
Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.
Muốn cho thuận nẻo đi về,
Anh sang làm rể, em về làm dâu.
Số giàu lấy khổ cũng giàu,
Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Phải duyên phải kiếp thì theo,
Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.
Em ơi! chữ vị là vì,
Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,
Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

100.Trời mưa lâm râm
Cây trâm có trái
Con gái có duyên
Đồng tiền có lỗ
Bánh tổ thì ngon
Bánh dòn thì béo
Cái kéo thợ may
Cái cày làm ruộng
Cái xuổng đắp bờ
Cái lờ đơm cá
Cái ná bắn chim
Cái kim may áo
Cái giáo đi săn
Cái khăn bịt đầu
Cái cầu đi chợ
Có vợ đàn ông
Có chồng con gái
Cái trái mù u
Ông cu đi câu
Để trâu ăn lúa
Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi
Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già.

CA DAO BẮT ĐẦU BẰNG CHỮ A

1:Ác tăng đội lốt thầy tu
Thấy cô gái đẹp bỏ chùa đi theo.
2:Ai ai cũng có duyên phần
Bon chen mặc kẻ, tảo tần thây ai
3:Ai ai cũng tưởng bậu hiền
Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai
4:Ai ai cũng tưởng bậu hiền
Vừa rờ tay bậu, bậu nghiền nát thây
5:Ai ăn cau cưới thì đền
Tuổi tôi còn bé chưa nên lấy chồng
6:Ai chơi ta cũng chơi cùng
Chơi sen quân tử chơi tùng trượng phu
7:Ai có thân thì nấy lo
Ai có bò người ấy giữ
8:Ai coi lên núi mà coi
Con bà Quản tượng cỡi voi bành vàng
9:Ai đâu thương kẻ ngu si
Ai đâu thương kẻ nằm lì mà ăn
10:Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay cao
11:Ai đi gánh vác non sông
Để ai chứa chất sầu đông vơi đầy
12:Ai đừng tệ bạc ai ơi
Không thương sao lại thả lời bướm ong
13:Ai kêu là rạch em gọi là sông
Phù sa theo nước chảy mênh mông
Sông ơi, thấm mát thời con gái
Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng
14:Ai mà nói dối cùng chồng
Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao
15:Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
16:Ai ơi chớ uống mà say
Họ hàng ghét bỏ, chê bai lắm lời


Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Categories

%d bloggers like this: